5.12.05

NGẪU HỨNG ĐỌC THƠ (phần II)

TRẦN XUÂN AN

NGẪU HỨNG ĐỌC THƠ

Phê bình thơ

PHẦN II
tiếp theo phần I:
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/


NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2005




Tp. HCM., 22 – 23 & 27.08.2003
(25 – 26 & 30.07. Quý mùi HB.3)

Thành phố Hồ Chí Minh
08 giờ sáng
ngày mười một tháng chín
hai không không tư
(hai mươi bảy tháng bảy Giáp thân
công nguyên Hoà Bình năm thứ tư)

Mười tám tháng mười một
Hai không không tư
(mùng bảy tháng mười
Giáp thân HB4)

_________________________

Bài thứ sáu

ĐỌC THƠ VÕ NGUYÊN

1

Trong bài tựa cho tập truyện Bản hoà âm thôn dã (1), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã viết: “Những thiên truyện của Võ Nguyên thật dễ mến. Qua những thiên truyện ấy, có lẽ tác giả muốn phát hiện ở những con người Việt Nam bình dị nỗi khát khao tình thương yêu, hạnh phúc, điều thiện và lẽ công bằng, trong cuộc sống còn nhiều thương tích chiến tranh, và con người thì còn nhiều khổ đau vất vả” (2). Ở một đoạn khác, GS. tiếp tục nhận định về tập truyện ấy: “Căn cứ vào những nét đặc sắc ở một số truyện của Võ Nguyên, tôi cho rằng Võ là cây bút văn xuôi có thiên hướng trữ tình. Anh muốn phát hiện chất thơ ẩn náu trong cái bình dị đời thường, ở những số phận ít ai biết đến, giữa cái hối hả, quyết liệt của cuộc sống vì miếng cơm manh áo hằng ngày” (2).
“Thiên hướng trữ tình”, “chất thơ” của một nhà văn, vốn đã khẳng định được ít nhiều tên tuổi mình trên báo chí và một số giải thưởng (*), là một nét của tâm hồn Võ Nguyên. Nét đặc sắc ấy, khi viết một cách tinh tế về anh như thế, GS. Nguyễn Đăng Mạnh không đề cập đến những bài thơ được anh sáng tác song song và đăng báo. Có lẽ nguyên nhân là do truyện ngắn Võ Nguyên trội hơn rất nhiều so với thơ Võ Nguyên, mặc dù thơ anh không phải không có những câu, những bài có thể thuộc vào loại đọc rồi là khó quên.
Nếu văn xuôi Võ Nguyên còn có thêm một nét đáng kể nữa, “truyện không có gì đáng kể mà sao rất có duyên”, nhờ nghệ thuật viết truyện và nhờ Võ Nguyên biết yêu quý những gì rất bình dị giữa cuộc đời bình thường này, cộng với “ý nghĩa nhân bản sâu sắc” trong một vài truyện (3). Tôi nghĩ Võ Nguyên có tiếp thu André Gide (1869 – 1951) nhưng lại trái ngược chiều về lập trường với André Gide (sau 1936). Đó là một nhà văn Pháp nổi tiếng với tiểu thuyết có tên như tập truyện đầu tay của Võ Nguyên (La symphonie pastorale, 1919 (**)) và tiểu thuyết khác, cũng đã được dịch ra tiếng Việt là Dưỡng chất trần gian (Les nourritures terrestres, 1897 (**)).
Điều đó, quả thật, cũng thể hiện ở thơ của anh. Khác với nhiều nhà thơ viết văn hay nhiều nhà văn làm thơ khác, người văn và người thơ Võ Nguyên đúng là một tạng chất. Tuy nhiên, ở hai loại hình văn chương này, mức độ thành công (văn) hoặc chưa thành công nhiều (thơ) ở Võ Nguyên, còn được quyết định bởi kĩ thuật đối với mỗi loại.
Nếu hầu hết 19 truyện ngắn Võ Nguyên đã tinh tuyển trong hai tập truyện, cho thấy một “tay nghề” truyện ngắn già dặn, ở một số truyện phải nói là tác giả đã đạt đến mức lão luyện, thì ở thơ, trong tập Lời cho người hát chia tay (1), kĩ thuật hầu như không thành vấn đề quan tâm đối với Võ Nguyên – hình như anh chủ ý làm thơ một cách hồn nhiên, có bài như thể đồng dao bâng quơ, nhưng rất tiếc không phải là bâng quơ của điêu luyện. Tuy vậy, nhờ nội lực của chất nhà văn trong anh, nên có bài rất khó quên.
Nói như vậy, có phải tôi có cảm giác như GS. Nguyễn Đăng Mạnh không? Uống qua hết những chén rượu truyện ngắn đầu nồi (rượu nước nhất) tuyệt ngon của Võ Nguyên, lại uống thêm vài chén rượu nước nhì, nước ba là thơ ca Võ Nguyên, đâm ra thơ ca ấy dở mất, cho dù thực chất rượu nhì, rượu ba được chắt lọc từ tâm hồn của anh vốn cũng khá thơm ngon, nồng đậm, dịu ngọt – chất ngọt đích thực của rượu gạo.

2

Nhưng cũng phải đọc lên ngay, để thấy thơ thế này có lẽ nào không phải là thơ có thể đọng mãi trong trí nhớ và trái tim người đọc, trước hết là vì vẻ đẹp của ngôn từ (chứ không phải nhờ độ sâu của ý tưởng)? Đây là bài Hoàng hoa (4) của Võ Nguyên:

Xưa ai ngậm ngải tìm trầm
Để người ngậm đắng bao năm rối bời
Hồ đêm lặng đến chơi vơi
Đáy sâu ngưng đọng sóng đời lung linh
Trầm xưa mất thời gian xanh
Hoàng hoa ngả bóng sang cành thiên thu.

“Ngậm ngải tìm trầm” không phải là giữ im trên đầu lưỡi một thứ ngải thiêng nào đó với niềm tin vào dược liệu cộng với niềm mê tín vào thần linh để có đủ sức chịu đựng gian khổ ở vùng sơn lam chướng khí, có đủ khả năng chống chọi với thú dữ suốt bao tháng ngày vào rừng sâu tìm kiếm một loại hương liệu quý giá (thứ hương liệu hình thành được bởi loài cây dó, sau một quá trình ít ra là suốt mấy mươi năm xanh lá, hấp thu được tinh chất từ gió ngàn, mây núi, suối nguồn, đất rừng để tinh luyện, cô đặc lại). Trong bài Hoàng hoa, đó là sự tịnh khẩu, trầm tư trong lao tâm khổ tứ để tìm kiếm sự kết tinh ngay chính trong tâm hồn, trí tuệ của người đàn ông nào đó.
Hoa cúc vàng phải chăng còn có tên hoàng hoa? Đó không phải là hoa mai vàng hay hoa lan vàng hoặc một loại hoa có sắc vàng nào khác. Tôi bỗng ngậm ngùi khi ánh mắt một lần nữa chạm đến hai câu kết. Lá xanh đã úa, đã rụng như “thời gian xanh”, thì Võ Nguyên cần chi miêu tả nữa, ta cũng thấy đóa cúc vàng kia tiều tụy đến mức nào, khi “hoàng hoa ngả bóng sang cành thiên thu” miên viễn!
Phải chăng đó là vẻ đẹp cổ điển của Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều với những ẩn dụ mới do Võ Nguyên sáng tạo?
Suốt cả tập thơ, cho dù không viết nhiều lần hai chữ thời gian, nhưng Võ Nguyên cũng cho ta cảm được ý niệm ấy theo cách của anh: “Thời gian khoác áo sa mờ / Tưởng là thật hoá ra mơ một thời” (5); “… Cũng là quá khứ dẫu vừa quay lưng / Thời gian là thế em có thấy không” (6).
Ý niệm thời gian không có gì rõ rệt hơn ở người con gái bị thiên hạ gọi là lỡ thì (lỡ thời), thời xuân sắc đã trôi qua, hạnh phúc lứa đôi không hề gõ cửa, hoặc do duyên cớ nào đó, đã để lỡ mất cơ duyên, và rồi không còn ai gõ cửa nữa khi đã quá muộn mằn. Đây không phải là vấn đề mới, mà thuộc về vấn đề muôn thuở, vả lại trong kho tàng ca dao hầu như không thiếu những bài về bi kịch này của phụ nữ. Nhưng trong cuộc chiến tranh khốc liệt, lâu dài vừa qua, con số thống kê bi kịch này là thuộc loại bí mật quốc phòng; và một trong những nỗi đau hậu chiến còn là nỗi niềm này. Không phải ngẫu nhiên Bến không chồng, tên một tác phẩm của Dương Hướng, được nhiều người sử dụng để nói về thời gian với nỗi niềm Võ Nguyên đã viết thành thơ: Lời người lỡ thì (7).

“Quê em / Nắng tháng mười cây cỏ xác xơ / Và rưng rức ngực hồng bốc cháy / Tung cát bụi mịt mờ bờ bãi / Gió lồng lên như đàn ngựa phá chuồng // Tháng năm về hờ hững trôi êm / Em đứng đợi ngàn trùng sóng gió / Tim khép mở bóng hình mờ tỏ / Bao lâu rồi ngọn gió vỗ triều lên // Gió bốn mùa thổi thốc qua đời em / Cứ lồng lộng bốn mùa gió thổi / Sợ từng đêm trở mình con cú gọi / Sợ ngoài kia trăng vỡ rụng tơi bời…”.

Hai chữ “ngực hồng” của Võ Nguyên chính là “dấu hiệu” để người đọc nắm bắt được mạch chính của bài thơ, nếu không kể đầu đề. Tất cả đều được anh viết bằng ẩn dụ, ẩn dụ gió lồng lộng và gió thông thốc suốt bốn mùa vẫn là hình ảnh quán xuyến suốt bài. Nhưng làm sao ta không cảm nhận được nỗi đau như thể bùng cháy, dậy sóng, hoặc nỗi đau âm ỉ trong tâm trạng hoảng hốt, lo sợ trước tuổi già cô quạnh sắp ập đến. Có gì tàn nhẫn lắm không khi miêu tả tâm lí người con gái lỡ thì như thế? Người phụ nữ cao quý sao lại quá nhiều thú tính, sao hoang dã đến mức ấy? Hay tận chiều sâu của sự miêu tả ấy là ý nghĩa nhân bản, rất con người? Khát tình và khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong tuyệt vọng, quả thật, tôi không ngờ lại bi thiết, quằn quại đến thế! Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm trong văn học cổ điển nước ta, ai đó đã viết, ấy là “tiếng thét kêu đòi hạnh phúc đôi lứa”, nhưng hình như ai đó cũng đã tránh né gọi đích danh của một trong những khía cạnh hạnh phúc là nỗi niềm tâm sinh lí “khát tình”. Dẫu sao, tôi vẫn thấy Võ Nguyên đã dùng hơi đậm thủ pháp cường điệu, phóng đại.
Mặc dù với biện pháp nghệ thuật không phải tả chân mà là ẩn dụ, có thể bài Lời người lỡ thì này cũng phải xếp vào kho “bí mật quốc phòng”, nếu Võ Nguyên không viết dưới ánh sáng của thiện năng và mĩ học, để bài thơ ấy thành một chỉnh thể nghệ thuật. May thay, cây bút của nhà giáo Võ Nguyên không xô con người (đối tượng trữ tình – khách thể tự biểu hiện, và người đọc) xuống vực thẳm; rõ ràng anh đã quyết níu giữ lại con người bên bờ vực thẳm ấy.
Về ý niệm ngày tháng trôi qua và những gì mất đi, những gì còn lại, Võ Nguyên có thêm một bài thơ thể bốn chữ, Vó thời gian (8). “Bóng câu qua cửa sổ”, thời gian được biểu trưng bằng vó ngựa phi nhanh, không phải là một hình ảnh mới. Cách kết cấu chủ yếu bằng những hai dòng thơ sóng đôi hoặc hai cặp câu sóng đôi, chứa đựng hai hình ảnh đối lập về chiều kích (con kiến – ngọn đồi; gang tấc – hư vô; ngọn bút – cơ đồ…) hoặc tương đồng về ý nghĩa (xác ve sầu – con ngựa già…), Võ Nguyên để cho hình ảnh tự biểu đạt được cảm nghĩ của anh về kiếp người ngắn ngủi, bé mọn giữa vô tận thời gian, mênh mông không gian, về cái chết như một lẽ tất yếu của quy luật sinh – tử, thành – hoại… Triết lí ấy không phải mới, nhưng cũng không bao giờ cũ. Có một điều là Võ Nguyên vẽ lại khung cảnh khiến anh nẩy sinh mối suy tư và cảm xúc lại bằng những nét mờ nhoà lung linh không rõ rệt.

“Một ngày nắng gió / Em đã đi rồi / Ai đem nỗi nhớ / Treo chi giữa đời // Dã tràng xe cát / Hoang phí một thời / Một con kiến gió / Chết bên chân đồi // Phù trần gang tấc / Bay vào hư vô / Nào ai nghiêng bút / Làm nên cơ đồ //Trên cành phượng vĩ / Xác con ve sầu / Bên đường thiên lí / Một con ngựa già // Tìm đâu vĩnh cửu / Cát bụi hợp tan / Khổ đau kim cổ / Vơi đầy nhân gian // Lửng lơ hạnh phúc / Trêu chi cõi đời / Tôi mang nỗi nhớ / Về cho một người”.

“Em đã đi rồi”! “Em” là ai vậy? Và “đi” về đâu? “Nỗi nhớ” kia, sao lại “treo chi giữa đời”? “Ai” là người “treo” nỗi nhớ ấy? Tại sao “tôi mang nỗi nhớ, về cho một người”? Tôi nghĩ, Võ Nguyên đã tiễn đưa một người em trai hoặc em gái, cũng có thể là một học trò cũ về nơi miên viễn, và chính người thơ đã tự nguyện nhận lấy “nỗi nhớ” để mang về cho người yêu của người vừa được chôn cất. Có thể đó là nỗi nhớ trăn trối của người vừa được đặt xuống đáy huyệt, nhưng có lẽ đúng hơn là phải thấy thêm, nỗi nhớ trăn trối kia, người đã qua đời đó cũng không dám gửi lại cho người yêu còn sống mà hôm an táng ấy lại vắng mặt.
Bài thơ phúng điếu này không phải là tiếng khóc thống thiết, tức tưởi hoặc da diết mà chỉ là cảm nghĩ ngậm ngùi, trầm lắng, mênh mang. Có vậy thôi, sao bâng khuâng, xót xa đến thế, và xao xuyến lòng ta lạ lùng.
Có thể nói Một chuyến đi về (9) của Võ Nguyên cũng thuộc về cảm hứng thời gian, nhưng lại là thời gian lịch sử. Đó là một “chuyến đi” của anh, từ Miền Nam, “về” với nguồn cội, Đất Tổ – Đền Hùng: “Con về Đất Tổ chiều đông / Hơi se sắt lạnh từ trong sa mù / Chợt rơi vào cõi thiên thu / Theo con Chim Lạc bay từ hồng hoang…”.
Đây là một bài thơ rất cảm động. Nhưng để thành công với đề tài đã thuộc loại truyền thống bốn nghìn năm sâu thẳm này, thật không dễ dàng. Trước Võ Nguyên, đã có hàng vạn bài thơ về nguồn như thế. Hẳn Võ Nguyên cũng thừa biết khó khăn ấy, tuy nhiên, vẫn không thể không bày tỏ một cảm xúc thiêng liêng đã chiếm lĩnh cả tâm hồn anh, anh không muốn để quên đi, để trôi mất niềm thiêng ấy, nên đã ghi lại thành thơ, như một chút lòng thành.
Thời gian, với Võ Nguyên, đã được anh cảm nhận, suy tư trong các không – thời gian như thế.

3

Một trong những đề tài cũng rất khó thành công khác, mặc dù cảm xúc về nó là không cách nào thiếu vắng đối với người thơ và người thơ khó kìm nén nhất. Đó là tình yêu đương.
Ngoài những bài mà hầu hết là lời chia tay cuối một cuộc tình không thể đi trọn, Võ Nguyên còn có một suy nghĩ hơn là một cảm xúc về yêu đương: Vệt sáng (10). Anh không bày tỏ những rung cảm bằng ngôn từ trữ tình, nhạc điệu biểu cảm, anh viết về yêu đương bằng thi pháp mộc, để các hình ảnh tự biểu hiện điều anh ngẫm nghĩ.

“Em như gương dưới nắng / Ánh vệt sáng lên tường / Thoáng hiện rồi thoáng mất // Anh nửa đời tìm bắt / Vệt sáng tròn xoay / Chiếc gương lại lắc / Chỉ còn bức tường rêu phong”.

Tình yêu đương chỉ là một thứ ảo ảnh sao? Không, nhưng người yêu dấu đích thực chỉ là ảo ảnh. Đó là cách nói về một nàng thơ không bao giờ có thật với người thơ, bởi vì anh ta mãi mãi khát vọng sự tuyệt đối, mà không bao giờ có nàng thơ nào là tuyệt đối đối với một tâm thức nung nấu ý chí sáng tạo và mãi mãi còn đam mê sáng tạo.
Đó là tình yêu thơ ca hay tình yêu đôi lứa? Và đây, câu hỏi ấy lại được lặp lại thêm một lần nữa, khi đọc bài thơ tứ tuyệt phóng khoáng về niêm luật có tên rất ngắn, chỉ một chữ: Tan (11). Xin đừng chê tứ tuyệt của Võ Nguyên quá cũ kĩ, sáo mòn, mặc dù mới đọc qua, quả đúng là cũ kĩ, sáo mòn thật.

Siết vòng tay và tan trong nhau
Tan vào vũ trụ với ngàn sau
Ngàn sau xa lắc, ai còn nhớ
Nếu chẳng bao giờ tan trong nhau.

Đây là tan hoà, sự trộn lẫn, hỗn hợp giữa hai thực thể hoặc nhiều thực thể đến mức tuyệt đối, như rượu pha với chanh hoặc như một thứ rượu đa vị (thập cẩm, cocktail), không còn thực thể nào giữ được bản chất của nó. Rhum pha với mươi giọt nước chanh vắt, rhum không còn nguyên chất rhum, chanh không còn nguyên chất chanh, mà thành một thực thể mới không thể phân chia lại được, ấy là rượu rhum-chanh. Mười hoặc mười lăm thứ rượu pha vào nhau, không như chè thập cẩm (nho, lê, táo, chuối, mơ… mỗi thứ hầu như vẫn còn nguyên là nó), rượu đa vị (thập cẩm) là kết quả của một sự đánh mất bản chất từng thứ rượu để trở thành thứ rượu mới với hương vị mới. Do đó, tan ở đây là sự hoà hợp tuyệt đối để tạo nên một thực thể mới chứ không phải là tiêu tan, mất hẳn! Nhưng hoà hợp tuyệt đối này cũng không phải là sự tập hợp. Trong tập hợp, mỗi thành tố, mỗi đơn vị vẫn còn là chính nó nguyên vẹn, có thể với một trật tự nhất định, như một tập hợp thơ (tuyển tập thơ của nhiều tác giả) chẳng hạn.
Nhưng ở bài Tan này, phải hiểu chữ tan bằng nghĩa cụ thể trong ngữ cảnh nghệ thuật cụ thể.
Tôi hiểu Võ Nguyên muốn nói đến tình dục vợ chồng trong quan niệm âm dương giao hợp để truyền đời, góp phần nối tiếp sự trường tồn của một họ tộc, một dân tộc và rộng hơn, đó là sự trường tồn nhân loại. Nhưng đọc lại lần nữa, thấy rằng, có lẽ Võ Nguyên chỉ giới hạn trong phạm vi họ tộc và chỉ trong phạm vi ấy. Với Võ Nguyên và cách nói cường điệu của anh, âm dương giao hợp (tình dục vợ chồng) là một động tác hoà hợp tuyệt đối giữa hai thực thể nam nữ và không những thế, còn là sự hoà hợp với cả Đất lẫn Trời, hiện tại với vĩnh cửu ngàn sau. Anh không nói đến quá khứ nghìn xưa, nhưng ta hiểu có sự hiện diện của quá khứ nghìn xưa ấy trong khoảnh khắc giao hợp âm dương (tình dục vợ chồng, nõn – nường, linga – yoni) ấy. Đây cũng là động tác nguyên sơ trong các dịp đón xuân mới, mùa quan họ, mùa đu cây, lễ tế thần nông (nhằm góp phần kích thích sự thụ phấn, giao phối trong trồng trọt, chăn nuôi) thuở xa xưa của người Việt và người Đông Nam Á. Thạp đồng Đào Thịnh, một số mảng tranh khắc gỗ Đình Bảng là những tác phẩm nghệ thuật biểu đạt quan niệm triết lí về tình-dục-thiêng-liêng này (hoàn toàn xa lạ với quan niệm, hành vi tình dục dung tục, bừa bãi…).
Ở trường hợp này, cũng như đối với mọi bài thơ, trang truyện khác, có thể tôi hiểu bài Tan theo thẩm thức của riêng tôi. Trong thẩm thức riêng của tôi ấy, có cả mọi vốn liếng văn hoá, tri thức, kinh nghiệm và tâm hồn lẫn thể chất của riêng tôi.
Ồ, nhà giáo Võ Nguyên nào có ngại gì khi thể hiện lên trang giấy cảm xúc về sinh lí tình dục mang chiều sâu văn hoá học. Nhưng, cẩn trọng chút nào, ta hãy đọc lại Tan của Võ Nguyên, để thấy Võ Nguyên thanh khiết hơn Hồ Xuân Hương và khác Hồ Xuân Hương một trời một vực, mặc dù sự thành công về nghệ thuật ngôn từ thi ca của anh vẫn còn thua kém rất nhiều, nếu so sánh với sự thành công trong khía cạnh ngôn từ của “Bà chúa thơ Nôm”, xét trên quan điểm đồng đại (so sánh với các nhà thơ cùng thời của mỗi thời đại).

4

Võ Nguyên là một nhà văn, đó là điều hiển nhiên. Nhưng thơ ca của anh qua tập Lời cho người hát chia tay chưa đủ để khẳng định Võ Nguyên còn là một nhà thơ nữa. Võ Nguyên là một nhà văn đích thực, anh còn sống hết lòng với thơ ca, có sáng tác thơ ca, nhưng anh cũng chưa phải nhà thơ đúng nghĩa – có người bảo thế.
Theo sự nghiêm ngặt và cái gọi là “tiêu chí” hiện tại là vậy.
Nhưng Bà Huyện Thanh Quan đâu phải là một nhà thơ có nhiều bài thơ lưu truyền! Rõ ràng hơn, Nguyễn Nhược Pháp với tập Ngày xưa (***) mỏng mảnh, chỉ vỏn vẹn 10 bài thơ (tôi viết bằng chữ: mười, chỉ vỏn vẹn mười bài thơ), có ai không gọi Nguyễn Nhược Pháp là nhà thơ? Trường hợp T. T. Kh., tuy còn là một bí ẩn chưa có đáp số, cũng chỉ đăng báo bốn (04) bài thơ, đâu nhiều nhặn gì, nhưng T. T. Kh. vẫn như ngôi sao sáng, cho dù chợt hiện rồi mất hút. Có ai không gọi T. T. Kh. là nhà thơ? Dẫu vậy, có người vẫn nghĩ Võ Nguyên đích thực là nhà văn chứ chưa phải là nhà thơ. Những người ấy quá nghiêm ngặt như sự nghiêm ngặt và cái gọi là “tiêu chí” hiện tại chăng?
Hỡi thằng tôi, có phải thằng tôi cũng nghiêm ngặt? Và vớ vẩn nữa, khi đặt ra vấn đề vớ vẩn như thế!
Ngẫm lại, thấy ít người gọi Nguyên Hồng (tác giả Bỉ Võ, Những ngày thơ ấu, Cửa biển…) là nhà thơ, tuy nhà văn đã sừng sững trong văn học sử này có nhiều bài thơ hay. Tôi nghĩ, Võ Nguyên cũng thuộc vào trường hợp của nhà văn Nguyên Hồng, với tầm cỡ khiêm tốn hơn.
Võ Nguyên là một trong vài ngôi sao sáng nhất ở tỉnh Bình Thuận, nhưng chưa thật sáng trên khắp cả nước, tuy có những truyện ngắn không thua kém gì các nhà văn hiện đại thuộc loại xuất sắc nhất nước.

5

“Võ Nguyên thân mến,
Bỗng dưng mình muốn viết một lá thư, gửi ra Phan Thiết để Võ Nguyên đọc và cho ý kiến.
Mình nói ngay nhé! Chỗ bạn bè thân thiết với nhau, bên cạnh những thuận lợi, lại có những cấn cái rất khó. Trong trường hợp như Võ Nguyên và mình, người ta hoặc là quá nể nang nhau, quá khen ngợi nhau, hoặc quá nghiêm ngặt với nhau. Có lẽ mình thuộc loại nghiêm ngặt chăng? Nghiêm ngặt để giữ thể cách cho Võ Nguyên và cả cho bạn của Võ Nguyên là mình chăng?
Nhưng trên tất cả mọi điều là tình thân bạn bè giữa Võ Nguyên và mình.
Chúng ta quen nhau, rồi thân thiết với nhau từ bao giờ nhỉ?
Không phải thoáng chốc, mà từ năm học 1973 – 1974 kia đấy. Ngày đó, chúng ta cùng chung một lớp ở Trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tiếp đến, chúng ta lại cùng chung với nhau một lớp ngữ văn (1974 – 1978) ở Đại học Sư phạm Huế. Tốt nghiệp, một vào xứ biển Thuận Hải (Bình Thuận – Ninh Thuận), một vào miền núi Lâm Đồng… Mười mấy năm gần đây, từ ngày mình vào TP. HCM., Võ Nguyên và mình lại có nhiều dịp gặp gỡ nhau.
Tình thân, lại là tình thân lâu dài, mới là điều đáng nói.
Tuy vậy, đây là chuyện văn chương chữ nghĩa, nghiêm ngặt là điều không đúng, nhưng nghiêm túc lại là vấn đề đâu phải không cần thiết. Phải vậy không, Võ Nguyên thân mến?
Vả lại, bài viết của mình về tập thơ Lời cho người hát chia tay của Võ Nguyên cũng chỉ là những điều mình chân thành cảm nghĩ về lĩnh vực thứ yếu của Võ Nguyên mà thôi. Dẫu sao, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cũng đã trang trọng đề tựa cho tập thơ ấy.
Lĩnh vực chính yếu của Võ Nguyên vẫn là văn xuôi. Thầy Nguyễn Đăng Mạnh, giáo sư văn chương đồng thời cũng là nhà lí luận phê bình văn học tên tuổi, đã làm việc đó, cho dù mới chỉ qua bài tựa “Vài ý nghĩ về tập truyện của Võ Nguyên” – tập truyện đầu tay. Một số giải thưởng và bài viết trên các báo, tạp chí cũng góp phần khẳng định những đặc sắc của truyện ngắn Võ Nguyên.
Tình thân, lại là tình thân lâu bền, mới là điều đáng nói. Và không chỉ thế, chúng ta lại có cả tình văn nghệ chân thành nữa; và văn nghệ lại là điều tâm huyết, chẳng “phê bình” nhau mà được sao? Cần phải “phê bình” đến mức “tận tình” mới thật là thân thiết!
Đùa … một cách nghiêm túc đấy nhé!
Võ Nguyên thân mến,
Mình kết thúc bài viết về tập thơ Lời cho người hát chia tay của Võ Nguyên bằng lá thư này, như một cách khẳng định những gì mình viết trong bài là hết sức nghiêm túc. Nếu có chút nào nghiêm ngặt, cũng chẳng sao, phải không Võ Nguyên?
Gửi đến Võ Nguyên lời chúc, niềm hi vọng thành công về những tập truyện ngắn bạn chưa xuất bản, cuốn tiểu thuyết bạn ấp ủ bao năm và đang viết, tập thơ một ngày gần đây sẽ “trình làng” của Võ Nguyên.
Chúc sức khoẻ và hạnh phúc. Cho gửi lời thăm tổ ấm Yến Sào quý báu – gia đình thân yêu – của bạn.
Thân ái”.


Khởi viết từ 11 giờ đúng ngày 08. 10. HB4 (25. 8. G. thân HB4);
Viết xong vào lúc 15 giờ 21 phút ngày 09. 10. HB4 (26. 8. G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN


(1) Võ Nguyên (tên thật là Võ Văn Tám, bút danh trọn vẹn ban đầu là Võ Trung Nguyên), Bản hoà âm thôn dã (BHÂTD.), tập truyện ngắn, Hội Văn học – nghệ thuật Bình Thuận xuất bản, 1994; Vó ngựa đêm khuya (VNĐK.), tập truyện ngắn, Nxb. Thanh Niên, 1997 (tổng cộng hai tập gồm 19 truyện ngắn); Lời cho người hát chia tay (LCNHCT.), tập thơ, Nxb. Văn Học, 2000.
(2) GS. Nguyễn Đăng Mạnh, Vài ý nghĩ về tập truyện của Võ Nguyên, BHÂTD., sđd., tr. 3 – 4.
(*) Giải truyện ngắn hay 1991 – Hội Nhà văn TP. HCM., Tạp chí Văn & Bns. Kiến Thức Ngày Nay; giải hồi kí và truyện ngắn hay 1992 – Báo Giác Ngộ; giải truyện ngắn và thơ hay 1992 - 1993 – Hội VHNT. Nghĩa Bình.
(3) GS. Nguyễn Đăng Mạnh, bài đã dẫn, BHÂTD., sđd., tr. 4.
(**) Hoà âm điền dã, bản tái bản gần đây của Nxb. Đà Nẵng, 1990, có tên là Khúc nhạc lòng của vị mục sư, tuy vẫn đề tên dịch giả là Vân Mồng (Bùi Giáng)! Và trước đây, bản dịch tiếng Việt của Dưỡng chất trần gian (đúng nghĩa nguyên văn), có tên sách là Trần gian muôn màu, dịch giả Lê Thanh Hoàng Dân, Mai Vi Phúc, Nxb. Trẻ (cũ), Sài Gòn, 1973. Chủ yếu Võ Nguyên tiếp thu những yếu tố tích cực từ Dưỡng chất trần gian.
(4) LCNHCT., sđd., tr. 52.
(5) LCNHCT., sđd., tr. 33.
(6) LCNHCT., sđd., tr. 57.
(7) LCNHCT., sđd., tr. 19 – 20.
(8) LCNHCT., sđd., tr. 17 – 18.
(9) LCNHCT., sđd., tr. 28 – 29.
(10) LCNHCT., sđd., tr. 38.
(11) LCNHCT., sđd., tr. 31.
(***) Nguyễn Nhược Pháp, Ngày xưa, Nxb. Văn Học tái bản, 1987.

Đã gửi: Ngày 10. 10. 2004
1. Võ Nguyên
2. Tạp chí Biển Xanh (Hội Văn nghệ Bình Thuận).



__________________________

Bài thứ bảy

ĐỌC THƠ TẦN HOÀI DẠ VŨ

1

Cách đây ba mươi mấy năm, tôi đã nghe nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ giải thích bút danh của anh (*). Trong những năm gần đây, rất tình cờ, một lần nữa tôi lại được nghe lời giải thích đó cũng của chính anh với những người bạn trẻ, bắt đầu làm thơ khi đất nước bước vào cuộc Đổi mới ở thập niên 90 vừa qua. Cái bút danh bốn chữ hơi đậm chất từ chương Hán học ấy, quả thật là một điển cố trong văn học Trung Hoa. Anh mượn tứ thơ của Đỗ Mục đời Đường, bài “Bến sông Tần Hoài” (1), nhưng thay thế hình ảnh sương khói, ánh trăng đêm bằng hình ảnh mưa đêm (dạ vũ), để thể hiện tâm trạng và tuyên ngôn cho đời thơ của mình.
Mưa đêm trên bến sông Tần Hoài, tự thân hình ảnh điển cố – thơ, có sáng tạo thêm ấy đã biểu đạt tâm trạng bi thiết của người dân mất nước, thể hiện tuyên ngôn thuở bấy giờ của một người trẻ tuổi làm thơ, quyết tâm dùng thơ ca để cảnh tỉnh, đánh thức những ai còn ngủ vùi trong men say cùng tiếng hát phấn son trước vận nước đau thương.
Nhưng suốt ba mươi mấy năm đọc rải rác thơ Tần Hoài Dạ Vũ, đến lúc này, sau khi đã đọc hết 03 tập thơ anh đã xuất bản, tôi vẫn muốn tách bút danh ấy thành hai hình ảnh, “bạc Tần Hoài” và “dạ vũ”. Tôi nghĩ, như vậy mới hiểu thật trọn vẹn hai mảng thơ xuyên suốt và song hành trong đời thơ anh. Tần Hoài Dạ Vũ là một nhà thơ thao thức, trăn trở về hiện thực đất nước, nhất là về Miền Nam trước Ngày Thống nhất, đồng thời anh cũng là nhà thơ của những tình yêu đương trầm buồn da diết, ít ra cũng rất đỗi ngậm ngùi.
Có thể nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ sẽ không bằng lòng về sự tách bút danh thành hai như một cách nói đó. Tuy nhiên, theo tôi, có thật sự hiện hữu hai khía cạnh chính yếu của một tâm hồn thơ như thế trong con người nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ. Dĩ nhiên hai khía cạnh ấy khác nhau, và mặc dù cũng có chút nào đó mâu thuẫn nhau, nhưng không thể tách rời nhau một cách máy móc. Nhìn chung, con người nào lại không là một khối mâu thuẫn! Nguyễn Du là một khối mâu thuẫn! Maiakovski cũng là một khối mâu thuẫn! Có thể tìm thấy sự mâu thuẫn ấy trong hầu hết các nhà thơ, nhà văn. Vả lại, sáng tạo thơ ca của một đời thơ là cả một quá trình. Quá trình sáng tạo nào cũng không thể đứng yên, mà luôn vận động trong mối quan hệ biện chứng giữa tâm hồn với bối cảnh của từng thời đoạn xã hội. Do đó, tôi cũng không thể đọc thơ phản chiến và thơ yêu đương của Tần Hoài Dạ Vũ với cái nhìn tĩnh tại, phiến diện.

2

Thơ yêu nước tại Miền Nam còn được gọi bằng một cụm từ quen thuộc trước đây, thơ phản chiến. Tần Hoài Dạ Vũ là một nhà thơ phản chiến, trực tiếp dấn thân vào hiện thực xã hội Miền Nam, có thể kể từ bài thơ có ghi ngày tháng sáng tác sớm nhất trong tập Tình yêu và vầng trăng lửa (2): tháng 3. 1963. Tất nhiên đó là một bài thơ của nhà thơ 17 tuổi, đã đăng trên báo chí thời ấy.

“… Những nghìn năm giết nhau / Thôi tôi mỏi tôi nhừ […] // Tôi ôm đầu âu lo / Tôi cong mình đau đớn / Chữ S thành từ đó / Rằng Việt Nam Việt Nam // Vô sản hay tư bản? / Độc tài hay tự do? / Tôi đui mù tâm thức / Mồm túa đầy cơn ho …” (3).

Đại từ “tôi” trong bài Lời đất này không phải tác giả tự xưng. Đó là Đất. Đất lên tiếng nói. Nhà thơ như một người thư kí ghi chép lại đúng y nguyên lời của Đất. Qua đó, nhà thơ vẽ lại hình thể đất nước ta như một người ôm đầu, hai chân như sắp khuỵu. Một cách khá bộc trực, thơ đã được viết như thế, bởi xã hội đòi hỏi nhà thơ phải nói thẳng, nói rõ những trăn trở, thao thức, băn khoăn trong chọn lựa. Thơ ca luôn gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Đọc Lời đất, tôi còn hình dung ra, đất nước sau một thời gian dài phân liệt Đàng Trong – Đàng Ngoài, phân liệt lương – giáo, lại rơi vào tình cảnh chia cắt Đất nước, chia cắt bằng dòng sông Bến Hải, một dòng sông hiền hoà bỗng dưng bị biến thành lưỡi dao khổng lồ, sắc lẻm và đầy máu.
Tần Hoài Dạ Vũ thuở bấy giờ đã nhận rõ, trên đất nước Việt Nam chúng ta, “mỗi thân thể hằn vết thương chia cắt / mỗi linh hồn đau nhức chuyện phân li” cùng với “máu anh em bè bạn hãy còn rơi” (4) và “thân đã rách giữa hàng rào ý thức” (4).
Như khá nhiều nhà thơ khác, sáng tạo thơ ca và nhận thức lịch sử, nhận thức thực tại đang từng phút từng giây trở thành lịch sử hầu như đồng thời song hành và đồng nhất trong một quá trình. Ở tuổi mười bảy (1963), tuổi hai mươi (1966), trong xã hội Miền Nam bị bưng bít thông tin, Tần Hoài Dạ Vũ bấy giờ, cũng như nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn, đã nhận thức cuộc chiến tranh trên đất nước ta chỉ là một cuộc nội chiến tương tàn như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Ở bản nhạc Gia tài của mẹ trong tập Ca khúc da vàng, Trịnh Công Sơn viết vào khoảng năm 1966: “hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Hai mươi năm nội chiến nào vậy? Bốn chữ số 1966 ghi dưới bài thơ sau đây của Tần Hoài Dạ Vũ xác định rõ, đó là 1946 – 1966. 1966, đó chính là thời điểm Tần Hoài Dạ Vũ viết bài thơ Tháng hai ở Huế (5), và anh cũng xem hai mươi năm với “những giới tuyến, những màu cờ” ý thức hệ ấy chỉ là một trận dịch hạch:

“… Chiến tranh quất vào thân thể chúng ta bầm tím / Chiến tranh quất vào quê hương chúng ta nghèo đói / Anh lớn lên thì sự đã rồi / Mọi chuyện đã dàn bày hận thù đã tới / Tới cùng những cơn mưa nước mắt / Tới cùng những giới tuyến những màu cờ / Tới cùng lửa cháy tới cùng bom đạn / Tới đã hai mươi năm tới từng số phận / Như trận dịch tới hôm nay …”

“Những giới tuyến, những màu cờ” không chỉ là Bến Hải kể từ 1954 về sau!
Có thể vào tháng 2. 1966, Huế phải đối đầu với một trận dịch hạch có thật, nhưng khi vào thơ Tần Hoài Dạ Vũ, dịch hạch thành một ẩn dụ, “ôi súng ôi bom ôi dịch hạch / những tháng ngày lấm lem // gặp nhau hỏi bàng hoàng thảng thốt / đã chích chưa đã chích chưa đã chích ngừa dịch hạch chưa?”. Hẳn nhà thơ khẳng định rằng, cuộc chiến trên đất nước đã đẩy dân tộc vào sự tương tàn bằng súng đạn bom mìn và bằng cả những thông tin tuyên truyền tâm lí chiến độc hại, lan nhanh, xuất phát từ đài phát thanh, báo chí chế độ cũ. Không dám đoan chắc, nhưng tôi cũng có cảm giác Tần Hoài Dạ Vũ khi viết, đã vận dụng nhan đề của một cuốn sách khá phổ biến hồi đó, Dịch hạch (1947) của Albert Camus (1913 – 1960), một nhà văn Pháp, với tư tưởng bế tắc của ông ta, “cả thế giới là một trại tập trung và chiến tranh phi nghĩa”, và chút tinh thần trách nhiệm của con người trước vận mệnh chung mà ông kêu gọi. Trong chiều hướng ấy, ông thuộc vào hàng ngũ tiên phong ở Phương Tây. Nói đúng hơn, cựu đảng viên Đảng Cộng sản Pháp Albert Camus muốn tìm kiếm “con đường thứ ba”, ở giữa hai khối, cộng sản và tư bản. Camus viết Dịch hạch để chống lại “vi trùng dịch hạch” của chủ nghĩa phát xít. “Con đường thứ ba” này ở các nước thuộc địa như Việt Nam vốn đã có trước cả Albert Camus với tính đặc thù trong điều kiện xã hội cụ thể. Và dường như cũng trong luồng tư tưởng “mở ra con đường thứ ba” đó, nhưng Tần Hoài Dạ Vũ vận dụng Dịch hạch phù hợp với bối cảnh xã hội Miền Nam thời trai trẻ của anh. Huế của Tần Hoài Dạ Vũ là “nơi chúng ta còn đối mặt bi thương”, đối mặt với những luận điệu tuyên truyền của Mỹ ngụy. Không quay lưng với Tổ quốc, với Huế, thái độ đó đã là một sự dấn thân, và anh không muốn chỉ ở riêng anh, anh làm thơ như một lời kêu gọi, một sự chia sẻ trong tinh thần cộng đồng trách nhiệm.
Cũng như Trịnh Công Sơn và một phân số khá lớn trong lứa tuổi anh cũng như lứa tuổi của tôi về sau, nhận thức, tâm tình, thái độ ấy là có thật như một trạng thái tinh thần thế hệ đã thuộc về lịch sử của xã hội Miền Nam trước đây.
So với thơ yêu đương, thường quen gọi là thơ tình, ở Tần Hoài Dạ Vũ, thì những bài thơ phản chiến của anh, nói đầy đủ là thơ phản đối chiến tranh phi nghĩa, đã trở nên phóng khoáng hơn, mạnh mẽ hơn, thật sự thoát khỏi sự câu thúc về niêm luật thanh vần. Ở thể thơ tự do, câu thơ tãi ra, giãn ra, dễ hiểu như lời nói thường ngày. Đó là loại thơ không phải để thầm thì giữa hai người yêu nhau hoặc để vừa đọc vừa ngẫm nghĩ một mình với tâm trạng cô đơn, trầm lắng. Đó là thơ để đọc trầm hùng, hoặc đọc như gào thét, như tiếng kèn xung trận trước công chúng. Tuy vậy, anh vẫn làm thơ theo các thể truyền thống, nhưng để dễ hiểu, Tần Hoài Dạ Vũ lại thường dùng phương thức biểu đạt nửa ẩn dụ (mặc dù cũng có ẩn dụ toàn phần) để thể hiện những ý tưởng về sự vật có ý nghĩa biểu trưng, về trạng thái trừu tượng:

“… cho con sông nhân đạo / chảy trên cánh đồng tim / chẳng gặp ghềnh ích kỉ / thuyền yêu không sợ chìm …” (6).

Hành trình tư tưởng và thơ ca của Tần Hoài Dạ Vũ, không nghi ngờ gì nữa, đã khởi phát từ tinh thần dân tộc, khát vọng tự do, phản kháng cường quyền tay sai với nhận thức mà về sau anh tự nhận là quá nhiều “sương mù” (không phải là sương mù thiên nhiên, sương mù thơ mộng!), để dần dần tiến đến phủ nhận những cái gọi là “cách mạng quốc gia”, “chỉnh lí quốc gia” ở chính trường Miền Nam. Vào tháng 12. 1967, trong một bài thơ Thư gửi em gái ở Hội An, người em gái được mẹ sinh ra “năm tháng trước ngày đình chiến […] / khi người ta lập tờ khai sinh hai nước Việt Nam” (1954), Tần Hoài Dạ Vũ viết:

“… Mười ba năm trên xứ sở tật nguyền / Tiếng súng nổ ru em ngày mới lớn / Cách mạng xuống đường đả đảo hoan hô / Thay đổi gì đâu em / Đời vẫn ngục tù / Vẫn cha mẹ ngày đêm khốn đốn / Gạo tiếp tế tháng đôi lần chen lấn / Cơm vẫn thường bữa mắm bữa rau […] / Anh thức dậy đêm nay […] / Từ trái tim mở ngõ một ngày / Là đau thương thổi về ngàn năm lồng lộng / Tổ quốc chúng ta đây / Màu cờ thấm máu / Lịch sử chúng ta đây / Tầm tã trận mưa bom / Mưa tan nát trên mặt người hấp hối / Trời Bắc Nam sùi sụt không thôi / Ôi Sài Gòn Hà Nội / Những bàn tay chưa nối lại nhịp cầu / Những mắt nhìn còn chôn giấu hầm chông / Trong tiếng nói có nghi ngờ phục kích / Làm sao để yêu thương / Mà không sợ người giật mìn chia cắt …” (7).

Từ nền tảng cơ bản của mọi nền tảng là tinh thần dân tộc, Tần Hoài Dạ Vũ đã trăn trở, thao thức, tìm kiếm và do đó, tất nhiên phải nếm trải cả những sai lầm vì xã hội đầy đặc “mù sương” tuyên truyền. Tâm trạng, nhận thức bấy giờ của anh, sau bao nhiêu năm tháng, ta nhìn lại, thấy đáng quý biết bao. Dẫu có sai lầm ít nhiều về nhận thức, về tư tưởng, nhưng giữa một Miền Nam sa đoạ, suy đồi bằng đủ các thứ khuyến khích lãng quên, buông xuôi, phó mặc thời cuộc và vận nước, tấm lòng và nghị lực của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ vẫn sáng lên trong bối cảnh quá nhiều “sương mù” đó. Tìm đường! Nhận đường! Mở đường! Đó là tiếng gọi của thời đại và của trái tim anh. Con đường ấy, anh và thế hệ tự tìm kiếm, tự khai mở lấy, chứ không phải khi mới chào đời hoặc khi đang còn là cậu bé học sinh trung học, con đường ấy đã được người lớn chỉ vẽ, áp đặt. Do đó, đọc thơ Tần Hoài Dạ Vũ, không ai không quý mến, trân trọng hình ảnh một thanh niên cùng với thế hệ mình thao thức, trăn trở để tự khai mở một hướng đi tới, mà khởi điểm cũng như mục đích vẫn là tinh thần dân tộc, nền độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.
Con đường thơ ca và nhận thức của anh, một chàng trai bấy giờ đang ở lứa tuổi hai mươi, vẫn còn ở phía trước. Anh viết Gửi tới một tương lai, trong âm hưởng sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân (1968), mà báo chí Miền Nam gọi là “biến cố Tết Mậu Thân”, chính xác là vào mùa đông năm ấy. Đó cũng là thời điểm có lẽ nhà thơ đã tốt nghiệp đại học sư phạm và đã ra trường, đi dạy học, lại trở về thăm Huế.

“Những ngày trở về tôi không gặp mặt bạn bè / Thiên nhiên khóc bên lòng vô vọng / Thành phố im lìm dưới trời mưa tai ương / Còi hụ giới nghiêm lúc tám giờ […] // Nhưng đời sống của chúng tôi đóng cửa vội vàng / Giấc ngủ trẻ con giàu ác mộng // Ai đang đi dưới một bức tường / Bỗng thấy tim đau đời mẹ nổ // Những ngày trở về tôi sống bơ vơ / Đi mãi về lòng mình lá chết / Thèm gặp một người quen mừng rỡ hàn huyên / Chỉ thấy những người lính viễn chinh nói cười la hét / Những đêm khuya gác tối không đèn / Un buồng phổi khói tàn nhựa thuốc / Muốn viết những bài thơ tố cáo bạo quyền / Muốn viết những trang thư tình dù em không đọc / Nhưng lòng khô bãi gió đìu hiu / Chỉ còn nỗi chết im lìm trong hai huyệt mắt / Sáng ngày mai rửa mặt, lang thang / Đi gặp những hồn ma kêu vang mất nước // Tôi muốn cúi xuống hôn những con đường / Ghi từng nỗi nhọc nhằn dân tộc …” (8).
(Huế, 12. 1968)

Đây là bài thơ có thể nói, đã phản ánh rất đúng tâm trạng của một phân số thế hệ trong bối cảnh Huế – Miền Nam hồi đó. Lính viễn chinh Mỹ, Đại Hàn “nói cười la hét” bắt đầu có mặt trong thơ anh! Và Tần Hoài Dạ Vũ không thể không viết rõ, viết công khai hai chữ “mất nước”!
Với một người anh cũng là học sinh, năm học 1969 – 1970, tôi đang ở Huế. Từ Quảng Trị, tôi vào thành phố cổ kính ấy để học lớp 8 (đệ ngũ) tại Trường Trung học Hàm Nghi, ngôi trường dưới triều nhà Nguyễn được gọi là Quốc tử giám. Tôi có thể cảm nhận được không khí đấu tranh của sinh viên học sinh Huế vào thời điểm ấy, và cũng có đôi lần tham dự bãi khoá, mít tinh, biểu tình. Đọc lại chùm thơ Tần Hoài Dạ Vũ viết về Huế trong thời đoạn này, tôi như đang cảm nhận lại một phần không khí Huế năm xưa.
Ở thời điểm 1969, Tần Hoài Dạ Vũ đã thật sự đến gần với Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trong những người bạn của anh, có người đã “lên xanh”, như Trần Minh Thảo, Trần Văn Hoà. Họ đã lên chiến khu, cầm súng chống đế quốc Mỹ xâm lược. Với anh, trận tuyến hầu như đã khá rõ ràng.

“… tôi nhớ đến các anh / những người đã ra đi không lời từ biệt / có bao giờ chúng ta lại nói với nhau / lời chân thật? Có bao giờ chúng ta im lặng xót đau / thấy một mùa tai ương thổi tới / đất nước nghẹn ngào mưa / niềm vui chúng ta gót chân người giẫm nát […] // những con ruồi xanh bu trên hạnh phúc tôi thiu / những con ruồi xanh trên phần số chúng ta / nỗi ám ảnh kinh hoàng dân tộc […]// không lẽ chúng ta sống suốt một đời khốn nạn / và chết trần truồng nô lệ ngày mai? […] // tôi nghĩ đến người xưa mài gươm dưới trăng […] // trên vỉa phố hồn mình còn nghe đau nhức / những gót giày ngoại quốc ngửa nghiêng …” (9).

Ý thức phản chiến không còn là phản đối chiến tranh phi nghĩa chung chung. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ lúc này cũng trở nên nhuần nhị hơn. Có lẽ đây là lúc ngọn bút thơ của anh đã được tháng ngày và nhiệt tình rèn luyện, mài giũa, để có thể viết nên những dòng thơ sắc nét và tài hoa, bay bướm một cách giản dị.
Tần Hoài Dạ Vũ nhìn vào hiện thực chiến tranh, để thấy rõ những điều giả dối trong sách giáo khoa, thấy rõ bản chất của lòng thù hận ở ngoài xã hội, và muốn được giãi bày cùng người em hay nàng thơ nào đó về những nỗi niềm mà hiện thực chiến tranh đã khắc sâu móng vuốt của nó vào lòng anh, về những lớp học sinh đầu tay ở ngôi trường đầu tiên anh làm thầy giáo:

“… trong những trang sách anh dạy học trò / đã thấy hiện hình những điều xảo trá / hạnh phúc bỏ đi xa / khi chúng ta mỗi ngày chen vai cùng thù hận // Niềm thù hận không phải tự tâm hồn / không phải tới từ đồng bào hay xứ sở / nhưng thù hận vẫn tới khắp mọi miền / như loài quạ đen của thời đại / về từ miền đất nào xa xôi / bay suốt tim người rao tin dữ […] // Em làm sao đọc hết một đời / trang sử lòng anh đầy máu đỏ // Sáng hôm nay đứng giữa sân trường / chung quanh tôi những đời đơm lộc mới / biết ngày mai chúng ta còn gặp lại nhau? / mừng một niềm vui vừa tới / Đêm hôm qua người chết lặng câm …” (10).
(Tam Kỳ, 08. 5. 1970)

Phải chăng không phải “nội chiến” mà chính là “ngoại chiến”?
Như hầu hết những bài thơ phản chiến hồi đó, thơ tự do của Tần Hoài Dạ Vũ hình như được tiếp nối bằng mạch thơ của Hữu Loan, Yên Thao, Quang Dũng, Trần Dần, Phùng Quán thời kháng chiến chống Pháp và kể cả thời Nhân văn – giai phẩm ở Miền Bắc. Bài thơ thường là khá dài, tâm trạng trữ tình – suy tưởng được trải bày từ một khung cảnh (đi bách bộ trên đường phố mưa chẳng hạn), trong đó nhà thơ với nhiều góc độ hướng về nhiều không gian, thời gian, và nhà thơ độc thoại đơn thuần hay độc thoại theo cách đối thoại với nhiều đối tượng thơ khác nhau, khi với mẹ, khi với em, khi với bạn… Thơ như một loại tuỳ bút chất chứa, trào dâng, miên man nhiều cảm xúc trữ tình công dân (chữ của Trần Dần là “thơ chính trị”). Có lẽ bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan, bài Nhà tôi của Yên Thao, bài Lời mẹ dặn của Phùng Quán, bài Nhất định thắng của Trần Dần… là khá tiêu biểu cho loại thơ theo cấu trúc này. Thử làm một sự so sánh giữa thơ Trần Quang Long, Trần Vàng Sao, Thái Ngọc San, Trần Đình Sơn Cước, Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đông Nhật (11) và thơ Tần Hoài Dạ Vũ… với những bài thơ của các nhà thơ lớp trước trên kia sẽ thấy rõ một sự ảnh hưởng khá rõ về kết cấu, nhạc điệu, ngôn từ…
Có gì trái khoáy không khi nhận định như thế? Nếu cần thiết phải có một chút lí giải, phải chăng là thế này: Những nhà thơ phản chiến ở Miền Nam vốn là những người trẻ tuổi có lòng yêu nước mãnh liệt, tâm hồn họ chan chứa tinh thần dân tộc, trái tim họ sục sôi ý chí căm thù quân xâm lược viễn chinh, họ dũng cảm kêu đòi thống nhất, họ tha thiết yêu công lí với tất cả tấm lòng. Theo ngày tháng, họ đã nhận thức rõ thực chất của chế độ Mỹ nguỵ ở Miền Nam, nên dần dần họ đến với Mặt trận Giải phóng. Nhưng họ cũng là những người cháy bỏng khát vọng tự do. Do đó, họ không thích thú gì với loại thơ ca “chính thống” ở Miền Bắc. Họ sẵn sàng làm người cộng sản, và thực sự có người là đoàn viên, đảng viên cộng sản thuộc Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam Việt Nam (Đảng Lao động Việt Nam tại Miền Nam), nhưng thực chất họ vẫn là những người cộng sản tự do, dân chủ và biết phản kháng lại bất công ngay dưới chế độ cộng sản, chứ không phải là loại “cộng sản đàn cừu” dưới gậy chăn dắt, gậy chỉ huy văn nghệ. Tôi nghĩ rằng đó là trạng thái tinh thần đích thực của những người sinh viên tuổi hai mươi, những nhà thơ trẻ phản chiến ở Miền Nam. Sự gặp gỡ giữa Hữu Loan, Yên Thao, Phùng Quán, Trần Dần… với Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, Thái Ngọc San, Trần Đình Sơn Cước, Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đông Nhật, Tần Hoài Dạ Vũ… là không có gì nghịch lí.
Tôi cũng không dám quả quyết về tư tưởng và hành trạng chính trị của những nhà thơ phản chiến ấy, nhưng điều tôi đoan chắc trên kia, là trên cơ sở văn bản nghệ thuật được đăng tải trên các tờ báo hợp pháp hoặc không chịu sự kiểm duyệt thuở bấy giờ.
Thơ Tần Hoài Dạ Vũ không những thể hiện tính kế tục giữa thơ chống Pháp, Nhân văn – giai phẩm với thơ anh trên mặt báo, mà chính bản thân con người nhà thơ trong đời thực cũng thế. Tôi vốn là một trong những học sinh của thầy giáo Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ), nên đã được nghe ngay tại lớp học những bài thơ không bao giờ có thể có trong sách giáo khoa dưới nhà trường chế độ cũ, do chính nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đọc (**). Đó là những bài Màu tím hoa sim, Nhà tôi, Lời mẹ dặn, Nhất định thắng… cùng với những bài thơ phản chiến của chính thầy giáo – nhà thơ, trong đó có bài Dòng chữ máu rưng rưng.

“Buổi chúng ta về qua một dòng sông / Sương mù quê hương lên rất chậm / Anh nhìn tôi cười nói như xưa / Nhưng trong nắm tay đã có tấm lòng uất nghẹn […] / Dù trái tim chúng ta có buồn / Vẫn thấy nắng hồng lên chật phổi / Những khổ đau như nấm mọc thân non / Khô héo hết khi niềm tin lớn mãi […] // Lòng chúng ta ai cứa vết dao / Nhìn những đoàn xe viễn chinh cuốn bụi mù cuối phố […] // Ai cướp cơm và ai đong máu / Ai bán thịt xương ta dựng những phố lầu / Đời chúng ta ai rào quanh bóng tối / Anh em ơi, lòng nhớ dặn lòng / Hạnh phúc vẫn đang còn trui lửa đỏ / Anh đã tin và tôi đã tin / Trước bạo lực không bao giờ cúi mặt […] // Tôi cúi đầu đi / Mưa rơi / Rơi mãi / Đất nước Miền Nam trơ trụi xác xơ […] / Thiếu những nụ cười / Thiếu cả tự do làm hơi thở […] // Anh ơi, đêm còn quá dài không thể ngủ / Tôi ngồi trong tối ngóng phương xa / Chờ đợi Hoà bình lên trước ngõ / Lòng sục sôi mà không viết nổi câu thơ / (Hăm bảy tuổi lẽ đâu đành chịu trói?) […] // Này anh bạn viễn chinh xa lạ / Xóm làng tôi anh đốt phá tan tành / Tương lai chúng tôi anh nung sém điêu linh […] // Anh ơi, hãy thắp đuốc lên môi / Nắm tay lại bao nhiêu xích xiềng phá hết […] // Ta đi mừng hội mới / Tổ quốc ơi, khắc hết cả cuộc đời / Dòng chữ máu rưng rưng / Tự do hay là chết / Khắc giữa quả tim Việt Nam mãi mãi kiêu hùng” (12).
(30. 6. 1971)

Sau khi ra Huế tiếp tục giảng dạy, Tần Hoài Dạ Vũ vẫn tìm cách gửi báo in không giấy phép (thậm chí còn ghi giấy phép là Hiến Pháp, để chơi khăm chế độ Mỹ ngụy) vào Tam Kỳ (tỉnh Quảng Tín, tức là tỉnh Quảng Nam bây giờ). Chúng tôi, những học sinh lớp 10, 11 chuyền tay nhau đọc. Bài Nối bước, viết tặng Nguyễn Đông Nhật, em trai của nhà thơ, đã được in trên tạp chí Đối Diện (***) hồi ấy. Đó là sự nối bước theo thế hệ cha ông chống Pháp:

“… chúng lộn, chúng nhào / chúng gào, chúng thét / chúng băm vằm ứa máu bầu trời xanh / nhà cháy / thây tan / dưới những cơn mưa sắt / nhưng chúng càng giết người càng sáng ngời tim sự thật / trái tim Việt Nam anh dũng chống xâm lăng // Em tôi nay trưởng thành đi chiến đấu / (đứa em sinh chưa đầy tháng buổi cha đi) / nối bước ông cha quyết chí giữ làng / nương bóng tre xanh vươn mình chống Mỹ […] / khuya nay loa gọi thức ánh trăng rằm / sao trời nở trên ngọn cờ cứu nước / ta ôm súng lên đường nhớ lời mẹ ru thuở trước…” (13).
(06. 1972)

Và sau khi Hiệp định Paris 1973 kí kết, nhà thơ chào mừng đứa con đầu lòng ra đời bằng một bài thơ, không phải là thơ ru con, mà thơ phản chiến.

“Bây giờ không còn những con chó sói bên ngoài / không còn những tiếng nổ xâm lăng / không còn hận thù làm mắt nhìn bốc lửa / nhưng bây giờ vẫn còn những con chiên ghẻ trong làng / những tên đồ tể vẫn hằng trục lợi / những tên đầy tớ ngoan ngoãn để người sai / chúng âm mưu níu mùa đông lại / chúng rào quanh những khu vườn cây trái còn tươi / nhưng mùa xuân ở bên kia sông đang bước tới […] / Anh có nghe không nắng mai vừa tới / mang tình yêu hoà hợp xây đời // Còn rất nhiều nghi kị giữa chúng ta / còn rất nhiều hiểu lầm lo sợ […] // Ta đi khắp xóm làng hát lời ca ngợi / mùa thương yêu hoà giải của dân ta… ” (14).

Từ đó, thơ Tần Hoài Dạ Vũ luôn được viết với sự lặp đi lặp lại những từ “hoà hợp, hoà giải, liên hiệp, Hội trùng tu, Hội Nước” và có cả “Hội Loài người” (15). Trong Gió hoà bình đã thổi, có đoạn rất cảm động và nhuần nhị, có đoạn vì cần chuyển tải khẩu hiệu, nên vẫn còn “khó đọc”:

“Khi lũ giặc đã cuốn cờ xâm lược / gió thanh bình thổi bát ngát lòng ta / em nhớ về chung tay mừng Hội Nước / khắp Bắc Trung Nam hoà hợp một nhà! […]/Mẹ già ơi, gió hoà bình đã thổi / chúng con về dựng lại xóm làng xưa / thù hận cũ, bên bếp hồng, hoà giải / lòng tạnh rồi sau những tháng ngày mưa…” (15).

Đọc thơ Tần Hoài Dạ Vũ giai đoạn này, hiểu anh nhìn rõ thù hận chất chứa cả trăm năm là thù hận có thật, cần phải hoà giải để hoà hợp. Tôi vẫn còn nhớ trong cuốn Việt Nam sử lược (16), một bộ sử được xuất bản dưới chế độ thực dân, vài ba thế hệ đã đọc, có câu: “Dần dần người trong nước phân ra bên lương, bên giáo, ghen ghét nhau hơn người cừu địch”. Thù hận giữa người Việt với người Việt còn hơn thù hận cừu địch ngoại xâm là cả một sự thật khủng khiếp, và đã thuộc về sử kí! Nhưng lịch sử vẫn còn đang tiếp diễn từ quá khứ đến hiện tại và cả tương lai, cho nên, mặc dù nói với niềm hi vọng lạc quan nhất, cũng phải nói thù hận ấy hiện vẫn còn tồn tại âm hưởng của nó (chỉ âm hưởng thôi), trong xã hội Việt Nam hậu chiến (1975 – 2004) (17)!
Từ những bài thơ đầu tay, như Cho tương lai (18) (1964), Tần Hoài Dạ Vũ đã viết đến hai chữ “đức tin”. Phải chăng đây chỉ là một cách tu từ, hay thực sự là đức tin tôn giáo, cụ thể là Thiên Chúa giáo? Ở bài thơ Thư gửi em gái ở Hội An, anh lại mỉa mai: “Em ơi, phải chi Chúa cho chúng ta được quyền chọn lựa / Thuốc độc hay Hoà Bình” (7). Nhưng có lẽ một trong những đoạn thơ của Tần Hoài Dạ Vũ dễ khiến người đọc khó quên nhất vẫn chính là mươi dòng viết về người vợ hiền của anh (gia đình cha mẹ vợ thuộc bộ phận đạo dòng Thiên Chúa giáo): “Ôi vợ tôi hiền lành như bông lúa / Mắt trong ngon như một giọt nước dừa / Vẫn cam chịu đi về mấy mùa mưa nắng / Vẫn là con chiên ngoan đạo mỗi sáng đến nhà thờ / Cầu nguyện cho người chồng ngoại đạo…” (12). Tất nhiên Tần Hoài Dạ Vũ biết rõ như anh đã viết: “nhưng bây giờ vẫn còn những con chiên ghẻ trong làng…” (14)!
Có những cuộc tình duyên vốn khởi đầu bằng những rung động trong sáng, vô tư, rồi theo ngày tháng, những trái tim bị sa lầy không lối thoát một cách oan uổng. Đó là những cuộc tình duyên bi kịch rất có ý nghĩa về mặt văn chương, nhưng dưới lăng kính chính trị, hoá ra “có vấn đề”!
Tôi nghĩ, đây là một trong những điều đã làm nên khối mâu thuẫn trong tâm hồn thơ Tần Hoài Dạ Vũ! Nhưng ở thi sĩ, mâu thuẫn có tính bi kịch hoá ra lại là vấn đề rất thu hút đối với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học vốn thường quan tâm đến các vấn nạn của hiện thực xã hội trong văn học. Và một nền văn học đích thực không bao giờ đơn điệu, bởi có sự hiện hữu của những mâu thuẫn bi kịch rất hiện thực ấy!
Chung quy, với mảng thơ phản chiến này, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ vẫn là một nhà thơ hiện thực giàu chất lãng mạn và lắm ảo mộng. Tôi từng biết, ai đó đã không ưa anh, cho anh là nhà thơ “tiểu tư sản”, ai đó nặng nề hơn, gọi anh là nhà thơ “ngụy tín”, “cải lương chủ nghĩa”, thậm chí thúc đẩy việc thi hành kỉ luật đối với anh (khai trừ anh cùng một loạt người ra khỏi Đảng), và ai đó chỉ biết ngậm ngùi, trong những cuộc chuyện trò nào đó, khi chợt nhắc về anh: thi sĩ “thất sủng”!
Chính Tần Hoài Dạ Vũ đã ghi nhận vào thơ anh những dư luận từ trước đó, 1965, trong bài Những ảo tưởng mùa xuân của loài rêu, chứ không đợi đến sau này (từ 1975), vì những lí do khác.

“… Người ta bảo anh là nhà thơ – anh tự hỏi không biết có phải – chỉ là một giống nhai lại mớ ngôn từ giẻ rách lừa dối thiên hạ bằng những ảo tưởng mặc áo hoa những khổ đau vớt ra từ lò nhuộm những hận thù súng đạn chết chóc viển vông // […] // Biết nói thế nào với em khi trán anh vẫn kẽm gai rào kín mắt anh nhìn tua tủa bàn chông và người đời thì vẫn liên tiếp ngộ nhận đằng sau mỗi lời nói nghi ngờ vẫn hằng phục kích? // Anh rơi từ đỉnh đau thương xuống vực sâu tủi hổ giấu mặt nằm im không dám nhìn ngày lên vàng vọt sợ đồng loại nhận ra mình chỉ là một tên mồm mép nói hoài về cuộc chiến tranh trong mỗi trái tim trên mỗi phần da thịt quê hương // […] // Anh vẫn đánh lừa anh mỗi ngày nghĩ rằng người ta không quên được vết thương càng lúc càng lở lói máu càng lúc càng đặc quánh căm hờn và những ruộng lúa chết ngạt trong rừng mưa bom sâu vào thân thể…” (19).

Mặc dù ít nhiều thừa nhận những thiên lệch trong cách nhìn, trong giọng thơ trước hiện thực Miền Nam và thường tự trách mình bằng hai từ “ảo tưởng”, “ảo vọng” (bởi thơ là tiếng nói cảm tính, không phải là kí sự lịch sử lạnh lùng), nhưng cũng chính nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã xác định cho mình sứ mệnh của thi sĩ, trước những dư luận công kích, trước những bạo lực luôn luôn cố quyết dìm chết những tiếng thơ phản kháng:

“Anh đi ven sườn đồi / cứ muốn vượt lên đỉnh / sự thật ở trên cao ở phía trước anh / giữa một thời đại / mà mọi sức mạnh / đều muốn nhận chìm anh // Ngày chói sáng và mây bay đi / ngày chói sáng / những tiếng kêu xé lòng […] / anh không ngừng sống / với những ảo vọng // […] Thời đại kêu thét điên dại / trong trái tim anh lửa cháy / trái tim thành một lưỡi hái / gặt những mùa ảo vọng / trái tim không ngừng / chảy / máu…” (20).

Tôi thấy Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ có chất đỏ rất Pablo Néruda, một thi sĩ Chi Lê (Nobel 1971), mặc dù anh nhắc đến Núi Sọ trong Tân ước (Kinh Thánh), nơi Jésus Christ chịu tử hình trên thập giá dưới chế độ thực dân của đế quốc phong kiến La Mã, vì Jésus Christ đã dám rao truyền “đức tin mới”.
Luôn trăn trở về sứ mệnh của thơ ca và trách nhiệm của nhà thơ, Tần Hoài Dạ Vũ còn viết bài Dự báo (1986):

“Những nhà thơ của thập kỉ dãi dầu / lại viết về những ngày bình yên hằng tưởng […] // Những nhà thơ sống một thời xa hoa / nói điều cao xa trước một em bé đói / câu hát gỉ của một dàn đồng ca tiền chế / trôi thờ ơ trên những mặt người đang đứng trước cánh cửa tai ương // […] sẽ đến trong cuộc sống chúng ta / một ngày phố phường đỏ tươi ngọn cờ phẫn nộ // Khi ấy tình yêu chúng ta được đánh thức / bằng tiếng hát của những nhà thơ cô đơn” (21).

Phải chăng anh đã đi đến với chân lí nghệ thuật và chân lí trong lao động sáng tạo nghệ thuật? Không bao giờ có thơ ca được sáng tác tập thể và nhà thơ đích thực thiếu cá tính sáng tạo cả. Và câu hỏi cũng là câu trả lời của Jean Paul Sartre (1905 – 1980), anh thường nói với học trò ngày ấy, “trước một đứa bé đói, hãy đặt cuốn La naussé (Buồn nôn (22)) và ổ bánh mì, nó sẽ chọn thứ gì?”. Phải chăng cháu bé đói khát ấy không thể chọn La naussé (1938), cho dẫu La naussé là cuốn sách mà Jean Paul Sartre dốc hết tinh hoa của đời mình vào đó, để trình ra giữa đời một chủ nghĩa hiện sinh vô thần. Cháu bé cần phải ăn cho lớn và đi học cho thành tài đã, rồi bấy giờ nó mới tìm đọc La naussé, xem tại sao phải buồn nôn trước hư vô, trước cuộc đời phi lí, phải dấn thân, phải phản kháng, và phải có tự do, phải có trách nhiệm. Ở đây, tôi không có ý nhắc lại để phê phán hay khen ngợi chủ nghĩa hiện sinh vô thần, mặc dù đó là “con đường thứ ba” ở Phương Tây giữa thế kỉ XX, theo cách của Phương Tây. Vấn đề là đôi câu thơ của Tố Hữu trong bài Có thể nào yên: “Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh / Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy”. Điều này đã có nhiều cuốn sách bình luận, tôi không phải bàn thêm. Cuối cùng, cái chính là suy tư của chính Tần Hoài Dạ Vũ về “tình yêu chúng ta” và “nhà thơ cô đơn”, chứ không phải nhà thơ trong dàn đồng ca thi sĩ “tiền chế” trước cây gậy chỉ huy văn nghệ. Tình yêu nào vậy? Tình yêu đương? Tình yêu cuộc sống? Tình yêu Đất nước? Tình yêu chủ nghĩa nhân đạo cụ thể và thiết thực? Vân vân dấu hỏi sẽ được đặt ra cùng ba dấu chấm lửng hay một dấu chấm quả quyết? Nhưng rõ ràng là đã có sự kiện Cởi trói (1987) trước “một ngày phố phường đỏ tươi ngọn cờ phẫn nộ”.

3

Tần Hoài Dạ Vũ còn là một thi sĩ của tình yêu đương và các tình cảm khác bên ngoài những suy tư về thời cuộc, những gì có thể gọi là thực sự dấn thân vào cuộc chiến tranh. Anh đã xuất bản hai tập thơ viết về những nỗi niềm đôi lứa và về những tâm trạng riêng tư: Thơ tình Tần Hoài Dạ Vũ và Ngọn lửa quạnh hiu. Thật ra, trong tập Tình yêu và vầng trăng lửa, mặc dù chủ yếu là thơ phản chiến, nhưng cũng có một chùm thơ yêu đương thuần chất được anh đặt vào giữa tập.
Số lượng thơ yêu đương được anh viết trước Ngày Thống nhất (1975) trong hơn hai tập thơ hoá ra không nhiều, so với mảng thơ cũng về đề tài này được anh viết về sau. Nếu chỉ căn cứ vào tỉ lệ như thế, ta cứ ngỡ đến lúc đã bước vào tuổi ba mươi (1976) Tần Hoài Dạ Vũ mới thật sự lao vào tình yêu đương!
Thơ yêu đương, Tần Hoài Dạ Vũ viết lúc anh còn ở lứa tuổi cháy bỏng nhất về loại tình yêu này, rất dễ nhận thấy, căn cứ vào sắc thái đặc trưng về ngôn ngữ thơ Miền Nam trong hơn hai thập niên chia cắt đất nước (1954 – 1975). Thơ tâm trạng riêng của anh trong giai đoạn này cũng thế. Tôi gọi đó là hương vị ngôn ngữ thơ Miền Nam (23).
Sau mấy mươi năm, đến bây giờ tôi vẫn thấy những đoạn thơ trong bài Hẹn về với Huế của Tần Hoài Dạ Vũ tuy vẫn chưa hề cũ, nhưng đó là nét đẹp cổ kính rất Huế:

“… Anh sẽ về một sáng mùa thu / sông Hương còn trắng những sương mù / áo em trắng nhịp cầu thương nhớ / bóng ngã lòng anh câu hát ru // Anh sẽ giong thuyền trên nước xanh / chở trăng Gia Hội vào Nội thành / soi nghiêng mái tóc thề tôn nữ / thiếp giữa một vùng hương mỏng manh…” (24).
(1964)

Hoặc ở bài Khi em 16 tuổi, nhà thơ bước vào tuổi 18 viết những điều vừa thơ mộng vừa rất thực ở tuổi dậy thì trong trắng:

“Nắng e thẹn dìu em từng bước nhỏ / hồn có buồn hơi thở cũng còn thơm / rừng tóc rối xôn xao loài dị thảo / mùa xuân sang chợt rủ xuống giận hờn // […]Con sóng nhỏ vỗ hai bờ cảm giác / vườn ngây thơ bướm trắng đã thôi vào / rồi một buổi buồn bỗng dưng thức giấc / đường em về chiều hoa rụng lao xao…” (25).
(1964)

Nhưng riêng ở mảng thơ về tâm trạng riêng trước Ngày Thống nhất, không phải chỉ một mình tôi, mà rất nhiều người đã đọc và thuộc nằm lòng một bài thơ được đăng trên bán nguyệt san Văn hồi ấy. Chiều mưa uống ruợu là bài thơ đẹp hoàn chỉnh của Tần Hoài Dạ Vũ về mặt ngôn ngữ thơ và tâm trạng thể hiện trong đó. Bài thơ của một người xa Huế và nhớ thương về Huế trong sự trống vắng quanh mình. Phải sống với Huế rất lâu và rất sâu với Huế mới có thể viết được những câu thơ với bao hình ảnh mang hồn vía Huế như vậy.

“buồn xuống ngang vai chiều tới chậm / lòng tôi mưa bụi nữa đây em / không chắc đêm nay mà ngủ được / rượu tàn không ấm nhớ không tên // tâm sự cứ như là áo rách / từng chiều chếnh choáng bước loanh quanh / hồn thôi bỏ mặc cho sương xuống / thương nhớ không vàng giọt nắng hanh // dừng chân dưới cột đèn châm thuốc / không gió mà tay lạnh rất đầy / mùa thu về nữa trên cây lá / mai mốt sẽ buồn như heo may //không biết tình xa chiều có lạnh / người về qua một bến sông xanh / áo bay hay là rơi vào Nội? / thương nhớ lòng theo mấy cửa thành // sao tôi cứ là mây viễn xứ / thèm về soi giữa mắt nhung xưa / mà không là một vầng trăng tỏ / nở giữa hồn em cả mấy mùa? // mưa rụng thêm hồn tôi nữa đây / chiều tàn. rượu hết. sầu chưa say / mai về tay níu vai cầu cũ / cởi áo xưa buồn cho gió bay” (26).
(1969)

Sau Ngày Thống nhất (1975), nhất là trong thời Đổi mới (1985) và Cởi trói (1887), thơ yêu đương và thơ tâm trạng riêng của Tần Hoài Dạ Vũ không phải vô cớ lại chiếm lĩnh cả tâm hồn anh. Tuy cả xã hội và riêng văn học nghệ thuật được đổi mới và cởi trói, nhưng Tần Hoài Dạ Vũ đã không còn dấn thân với tất cả tinh thần trách nhiệm như trước đây. Anh thừa biết những câu trong sách giáo khoa, ban biên soạn đã viết nhằm phê phán thơ ca lãng mạn tiền chiến (1930 – 1945), đại để là nhà thơ tìm đến tình yêu đương như một sự thoát li hiện thực xã hội dưới chế độ thực dân – nửa phong kiến. Nhưng khó viết về “con người mới, cuộc sống mới”, nay được tự do thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ yêu đương cũng là một lối thoát cho sự bế tắc hiện tại. Và tình yêu đương bùng cháy trong bao tập thơ, trang báo. Không thể ra khỏi quỹ đạo của thời đoạn, Tần Hoài Dạ Vũ sống lại với thời thanh xuân đã qua. Với yêu đương, anh yêu bằng cả trái tim nhưng đó là trái tim của một người đứng tuổi, đã từng trải, và đã xa lắm rồi những ngây thơ, sôi nổi, thiết tha mà thơ mộng ở tuổi sắp là sinh viên đại học. Trái tim anh gần đây vẫn sôi nổi, thiết tha như thuở nào, nhưng cảm xúc lại có chiều sâu của những trầm tư. Anh suy nghiệm về tình yêu đương. Và không nghi ngờ gì nữa, anh muốn tìm trong yêu đương một sự thăng hoa, giải thoát: tình yêu đương như một thứ tôn giáo mang tính chất trần tục. Anh làm thơ triết lí về tình yêu đương, trong đó có cả dục tính với sự ngợi ca thân xác (tất nhiên ở tuổi đã quá trưởng thành!), sự truy tìm bản thể, lại gồm cả sự tính toán giàu sang, danh vọng của người đàn bà ở tuổi chín muồi và đã trải qua nhiều nỗi đời, sự âu lo ở tuổi sắp sửa xế chiều của người đàn ông cô đơn, không thừa thãi tiện nghi vật chất. Tôi có thể nói về thơ tình Tần Hoài Dạ Vũ giai đoạn sau này như vậy. Và tôi không thể không nhận ra, chính anh, Tần Hoài Dạ Vũ, sau cuộc trải nghiệm yêu đương với “người bạn đời ngoài hôn ước” (27)– theo cách nói của anh –, nhà thơ đã viết: “Kỉ niệm bây giờ là đôi mắt địa ngục soi mói khi cuối cùng tôi đã hiểu ra rằng chẳng phải tình yêu là tất cả” (28).

“Cuối cùng thì những dối trá cũng bày ra / nhưng anh không ngờ nó lại trần trụi đắng cay đến vậy / Bệnh tật là mặt trái của đắm say // Cuối cùng thì những ảo tưởng đã tan đi / nhưng anh vẫn không bao giờ còn nhắm lại được con mắt trong sáng / Chiếc mặt nạ của thói đời phóng đãng // Cuối cùng thì cuộc tình muộn phiền cũng đã kết thúc / nhưng anh vẫn không thể nào bước qua trái tim ngập giữa tro tàn / Li nước đã không còn một chút cặn” (29).

Quả thật, Tần Hoài Dạ Vũ đã viết được những bài thơ rất đẹp, đẹp một cách cay đắng, và có chiều sâu tư tưởng về tình yêu đương. Ngoài những thể thơ, kể cả thể tự do, thường thấy trong các tập thơ của anh, Tần Hoài Dạ Vũ còn làm sống lại và làm mới mẻ hẳn loại thơ văn xuôi mà chúng ta nếu để ý, sẽ thấy rất gần với thể phú trong văn học Việt Nam cổ điển. Ngọc tĩnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi, đặc biệt là Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát, Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ, đó là vài ba dẫn chứng dễ tìm thấy và hầu như ai cũng biết. Thể phú thực chất là thơ văn xuôi, có thể nói như vậy, mặc dù ở thể phú còn bị ràng buộc bởi phép biền ngẫu, thanh vận. Nói cách khác, thơ văn xuôi chính là thể phú tự do. Rabindranath Tagore thường dùng thể thơ văn xuôi này như ở tập Tâm tình hiến dâng (30) chẳng hạn, và các nhà thơ trước đây cũng có nhiều người sử dụng như Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Mai Trung Tĩnh, Nh. Tay Ngàn… Chùm thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ có tên riêng của từng bài như Thư gửi một người lỗi lầm, Mùa xuân xa tít, Đoạn kết của một nỗi buồn, Kinh cầu riêng cho một người, Bằng chứng, Bài ca của lòng trắc ẩn muộn màng, Phút giây vĩnh cửu, Lối về, và có thể kể cả bài Niềm tin. Đó là những sáng tạo mới rất đáng kể của anh. Riêng bài Niềm tin, thử không ngắt dòng, ta đọc được một đoạn thơ văn xuôi tuyệt vời:

“Nếu tuổi trẻ đã qua đi và chỉ còn những hoài niệm luôn luôn đè nặng tâm hồn tôi. luôn luôn cuốn tôi đi trong dòng xoáy của đời. luôn luôn vọng lại trong tôi những lời từ biệt, tiếng còi tàu hay tiếng gió của buổi hoàng hôn mưa bụi. tôi vẫn không tin rằng cuộc đời này chỉ có nỗi buồn…” (31).

Ở bài Niềm tin ấy, lần thứ nhất in ở tập Thơ tình Tần Hoài Dạ Vũ, lần thứ hai anh in cuối tập Ngọn lửa quạnh hiu để thay một lời tự bạt. Điệp cú “tôi vẫn không tin rằng cuộc đời này chỉ có nỗi buồn” ở cuối mỗi đoạn thơ là một sự khẳng định niềm yêu cuộc sống của anh như anh từng quả quyết đặt đầu đề cho một bài thơ khác, “Vì niềm vui. Với niềm vui” (32).
Một điều nữa có thể thấy ở mảng thơ yêu đương suốt đời thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, mà tôi mạn phép gọi là mảng mưa đêm (dạ vũ), bên cạnh mảng thơ phản chiến bến Tần Hoài (bạc Tần Hoài): đó là hàng trăm bài thơ trau chuốt nhất của anh về ngôn từ, nhạc điệu và hình ảnh. Thơ phản chiến, anh viết khá giản dị, dễ hiểu, có nhiều bài đẹp và sâu trong sự giản dị, dễ hiểu ấy, nhằm phục vụ quần chúng. Thơ yêu đương của Tần Hoài Dạ Vũ được viết hầu hết với thi pháp khác hẳn, để người yêu thầm thì đọc cho người yêu, để ta đọc đi đọc lại trong suy ngẫm, mỗi lúc đọc mỗi phát hiện ra những dụng công rất tinh tế của nhà thơ.
Tuy nhiên, cũng không vì thế để rồi nói bừa rằng, Tần Hoài Dạ Vũ bỏ tất cả tâm huyết và gan ruột vào thơ yêu đương và chỉ thơ yêu đương mà thôi. Không, hoàn toàn không phải vậy. Tôi nghĩ, viết thơ phản chiến một cách dung dị lắm khi lại phải khổ công lao động nghệ thuật gấp nhiều lần so với việc làm một bài thơ yêu đương có hình thức trau chuốt tinh tế.
Một điều khác nữa, Tần Hoài Dạ Vũ rất ít khi làm thơ lục bát. Tuy vậy, với thể thơ này, để thể hiện tâm trạng riêng, anh vẫn có những câu rất hay, cái hay của sự giản dị, trong trẻo và gần gũi:

Mười năm không trở lại nhà
Bóng trưa nghiêng đổ tiếng gà trong mơ (33).


4

Mặc dù có sự giao thoa giữa mảng thơ phản chiến (bạc Tần Hoài) và thơ yêu đương (dạ vũ), nhưng ở Tần Hoài Dạ Vũ qua 03 tập thơ, có một sự rạch ròi đến độ không cần lưu ý cũng có thể thấy ngay.
Trong mảng thơ phản chiến, qua những bài thơ được sắp xếp theo thứ tự thời gian ở tập Tình yêu và vầng trăng lửa, dưới mỗi bài lại có cả địa điểm, ngày tháng năm hoặc chỉ là năm sáng tác, người đọc có thể hình dung rõ những chặng đường nhận thức cùng những dấu ấn tư tưởng và thủ pháp nghệ thuật thường dùng trong mỗi giai đoạn của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ. Thơ trữ tình (vốn thuộc loại hình hư cấu) không phải là hồi kí (thuộc loại hình ghi chép người thật, việc thật), tác giả cũng không xác định đó là kí sự hay nhật kí bằng thơ, tuy nhiên, người đọc vẫn hình dung ra một chân dung thơ (tôi không dám khẳng định là chân dung khắc hoạ con người đời thật) của Tần Hoài Dạ Vũ. Đó là con người thơ bên trong, con người sâu thẳm, của chính nhà thơ. Mảng thơ yêu đương của Tần Hoài Dạ Vũ góp phần rất lớn để chân dung thơ, con người sâu thẳm của nhà thơ hiển hiện trước mắt ta, qua những tần số rung cảm, tần số xuất hiện những hình ảnh, từ ngữ, ý tưởng, thủ pháp nghệ thuật mà tác giả tâm đắc nhất, trăn trở nhất, thao thức nhất.
Tôi có thể cam đoan với những ai chưa đọc trọn vẹn 03 tập thơ của Tần Hoài Dạ Vũ một điều: Trong một bối cảnh văn học đầy ngập những ấn phẩm suy đồi, có tác hại xô đẩy hoặc khuyến khích tuổi trẻ tìm kiếm sự lãng quên thế cuộc trong những mối tình yêu đương đủ loại, trong những thứ triết học xa lạ, viển vông, ẩn chứa nhiều độc tố chưa được chỉ ra (bên cạnh những yếu tố tích cực), và trong không khí xã hội đầy đặc những nỗi niềm mặc cảm nhược tiểu, mặc cảm thân phận, những thứ mặc cảm chỉ khiến tuổi trẻ cúi gục đầu buồn thảm, Tần Hoài Dạ Vũ đã phần nào nhìn ra sự thật lịch sử và thực trạng chế độ xã hội, đặc biệt là ở Miền Nam, để rồi xác định cho mình, bạn bè mình và cả những người nhỏû tuổi hơn mình một trách nhiệm ở trái tim – ngọn bút, trước vận nước. Đó là điều rất đáng quý trọng và kính mến. Tất nhiên anh cũng có những sai lầm, thiếu sót, phiến diện, những ảo vọng dung hợp đối cực, và không phải không có những thiên lệch. Nói rõ ra, chẳng lẽ Tần Hoài Dạ Vũ không có một chút nào xúc động trước hiện thực đấu tranh của phong trào Phật giáo, gồm cả lực lượng dân tộc thuần tuý đông đảo, chống chế độ Mỹ ngụy thời bấy giờ? Và anh còn thiên lệch về nhiều phương diện khác nữa. Nhưng với một tiếng thơ đấu tranh trực diện, những thiên lệch (đúng hơn là sử dụng thủ pháp nghệ thuật cường điệu) của tình cảm cháy bỏng nẩy sinh từ nhiệt huyết là một điều không thể khác được. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ cũng không phải không nhận ra điều đó. Tôi nghĩ, hẳn có lúc anh đã tự hỏi, trái tim nhà thơ có thể công bằng, khách quan hơn đối với lịch sử, và cái nhìn của nhà thơ cũng có thể tỉnh táo, toàn diện, thấu đáo hơn về hiện thực xã hội – lịch sử chăng?
Tôi vẫn giữ lòng quý trọng, kính mến ấy về nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ ở những thao thức, trăn trở trong thời gian sau Ngày Thống nhất (1975), mà anh đã viết thành thơ trong 03 tập thơ đã xuất bản, mặc dù hình như anh đã bị quá nhiều áp lực, các luồng sức ép vừa thực chiêu vừa hư chiêu, nên “nhiều lúc như để tâm hồn nghiêng về thế giới của hư vô” (34); và cho dẫu như vậy, anh “vẫn không tin rằng cuộc đời này chỉ có nỗi buồn” (31).
Tôi hiểu, chưa có thời đoạn nào sức ép đối với người làm thơ, viết văn (tất nhiên liên quan đến sử học) lại ghê gớm và từ nhiều phía như hiện nay.
Nhưng, ngoài tình yêu cuộc sống, chúng ta còn biết đòi hỏi gì nữa ở một nhà thơ vốn quá bơ vơ và rất lẻ loi giữa trần gian này?

Khởi viết từ 10 giờ đúng, ngày 15. 10. HB4 (02. 9 G. thân HB4);
Viết xong lúc 16 giờ 03 phút, ngày 17. 10. HB4 (04. 9 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN

(*) Trong cuộc sống, có nhiều góc độ ứng xử, và mỗi góc độ đều phải đặt trong một điều kiện giao tiếp thích hợp. Đây là lần đầu tiên, tôi xin phép được gọi thầy giáo trực tiếp giảng dạy tôi vào học kì I năm lớp 10 bằng một đại từ trong quan hệ chỉ chênh lệch nhau khoảng 10 tuổi và trong tình thân văn nghệ: anh.
(1) Thơ Đường, tập 1, nhiều người dịch, Nxb. Văn Học, 1987, tr. 263: “Bạc Tần Hoài”, nguyên tác của Đỗ Mục: Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa / Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia / Thương nữ bất tri vong quốc hận / Cách giang do xướng “Hậu đình hoa”! Khương Hữu Dụng dịch: Nước lồng khói toả, cát trăng pha / Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia / Con hát biết chi hờn mất nước / Cách sông còn hát “Hậu đình hoa”!
(2) Tần Hoài Dạ Vũ, Thơ tình Tần Hoài Dạ Vũ (TTTHDV.), tập thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 1992; Ngọn lửa quạnh hiu (NLQH.), tập thơ, Nxb. Trẻ TP. HCM., 1996; Tình yêu và vầng trăng lửa (TY. & VTL.), tập thơ, Nxb. Trẻ TP. HCM., 1997.
(3) TY. & VTL., sđd., tr. 13 – 14.
(4) TY. & VTL., bài Giấc ngủ mùa xuân, sđd., tr. 16 & bài Bài thơ của một thành phố đóng cửa, sđd., tr. 45.
(5) TY. & VTL., sđd., tr. 42 – 44.
(6) TY. & VTL., bài Cho tương lai, sđd., tr. 23.
(7) TY. & VTL., sđd., tr. 58 – 59.
(8) TY. & VTL., sđd., tr. 66 – 69.
(9) TY. & VTL., bài Những sáng mùa đông, sđd., tr. 70 – 74.
(10) TY. & VTL., bài Hi vọng bên cõi chết, sđd., tr. 79 – 80.
(11) Nhiều tác giả, Tiếng hát những người đi tới, Nxb. Trẻ, 1993. Ở đây, tôi chỉ liên hệ đến các nhà thơ và chỉ những nhà thơ thường làm thơ theo thể tự do, có ảnh hưởng mô-tip (motif) này; tôi cũng không đề cập đến các nhà văn hoặc những nhà sáng tác vốn nổi trội hơn về văn xuôi mặc dù cũng có làm thơ, như Trần Duy Phiên, Trần Hữu Lục… Xin thêm một vài dòng vào chú thích này: Tôi biết nhà thơ Trần Vàng Sao, tác giả Bài thơ một người yêu nước mình cùng nhiều tập thơ, sau khi đã thoát li “lên xanh”, anh vẫn cứ là nhà thơ phản kháng trước những bất công, giả dối, nên bị đưa ra Miền Bắc. Ở Miền Bắc, anh lại bị “giam” tại một trại hẻo lánh, bản thảo thơ anh bị tịch thu, tiêu huỷ. Sau Ngày Thống nhất, được về Huế, nhà thơ Trần Vàng Sao vẫn là “nhà thơ dân đen” hay “nhà thơ cùng đinh”. Giai đoạn mới Đổi mới, anh lại xuất hiện trên tạp chí Sông Hương, gây chấn động dư luận bằng bài Người đàn ông bốn mươi ba tuổi kể chuyện mình và nhiều bài khác. Hiện nay, anh vẫn còn sống và vẫn tiếp tục sáng tác tại thành phố Huế.
(**) Xin xem thêm: Trần Xuân An, Giữa vòng tay Tam Kỳ và bè bạn, bút kí, Kỉ yếu 40 năm (1955 – 1995) thành lập Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, Quảng Nam – Đà Nẵng, 1995, tr. 58 – 70. Trong bút kí này, nhân vật thầy giáo B. là giáo sư trung học đệ nhị cấp Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ).
(12) TY. & VTL., sđd., tr. 100 – 107.
(***) Tạp chí Đối Diện (hay Đồng Dao, Đứng Dậy), ấn hành từ 1969 đến 1978, do một nhóm linh mục cấp tiến, hoạt động độc lập bên ngoài Giáo hội Thiên Chúa giáo, chủ trương: Chân Tín, Nguyễn Nghị, Nguyễn Ngọc Lan… Tôi không dám đoan chắc về dư luận này: Đây là những linh mục Thiên Chúa giáo muốn thực thi một sách lược hoà hợp, hoà giải dân tộc, chống chế độ Mỹ ngụy và liên hiệp với Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam cùng chính quyền Miền Bắc nước ta. 03 linh mục kể trên hiện nay còn sống và thường trú tại TP. HCM..
(13) TY. & VTL., sđd., tr. 116 – 119.
(14) TY. & VTL., bài Chào mừng Nắng Mai, sđd., tr. 124 – 129.
(15) TY. & VTL., bài Gió hoà bình đã thổi & bài cuối tập là Mùa xuân của chúng ta, sđd., tr. 132 – 134 & … 144.
(16) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (1921), Nxb. Tân Việt, bản in 1964, tr. 343. Tôi không khẳng định Trần Trọng Kim viết hoàn toàn đúng. Riêng về khía cạnh này, thật ra, ông đã “lách” khi viết về mâu thuẫn lương – giáo. Xin trích một đoạn tôi đã viết ở một cuốn sách: “Mâu thuẫn giữa Pháp xâm lược – Việt chống ngoại xâm bị tôn giáo “đầu độc” nên chuyển thành mâu thuẫn Việt bên giáo – Việt bên lương! Người Việt bên giáo thù hằn người Việt bên lương hơn thù giặc Pháp, thậm chí tôn vinh giặc Pháp là sứ giả của Thiên Chúa, và ngược lại, người Việt bên lương chủ trương vừa bình Tây vừa sát tả!”. Xin xem thêm tư liệu gốc: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, kỉ đệ tứ – kỉ đệ lục (1847 – 1888), bản dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, 1972 – 1977.
(17) Để rõ hơn, xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đã sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).
(18) TY. & VTL., sđd., tr. 24.
(19) TTTHDV., sđd., tr. 24 – 25.
(20) NLQH., bài Nhà thơ, sđd., tr. 19 – 20.
(21) NLQH., sđd., tr. 25 – 26.
(22) Jean Paul Sartre (1905 – 1980), Buồn nôn, Phùng Thăng dịch, Nxb. An Tiêm, 1969.
(23) Không chỉ trong thơ yêu đương, thơ tâm trạng riêng, mà bất kì thể loại văn học, báo chí nào cũng thế. Rõ ràng ở Miền Nam hình thành riêng một hệ ngôn ngữ tiếng Việt, mặc dù đất nước chỉ bị chia cắt trong 21 năm. Điều đó có thể nhận ra ngay, khi đọc những ấn phẩm sách báo xuất bản ở Miền Nam trước 1975, và đối chiếu với hệ ngôn ngữ tiếng Việt ở Miền Bắc trong cùng giai đoạn.
(24) TTTHDV., sđd., tr. 17.
(25) TY. & VTL., sđd., tr. 83 – 84.
(26) TTTHDV., sđd., tr. 27 – 28.
(27) NLQH., bài Phút giây vĩnh cửu, tr. 88.
(28) NLQH., bài Đoạn kết tạm thời của một nỗi buồn, sđd., tr. 63.
(29) NLQH., bài Hồi cuối, sđd., tr. 74.
(30) Rabindranath Tagore, Tâm tình hiến dâng (đúng ra là The Gardener – Người làm vườn, 1961), Đỗ Khánh Hoan dịch, Nxb. An Tiêm, 1969.
(31) NLQH., sđd., tr. 92.
(32) NLQH., sđd., tr. 33 – 38.
(33) NLQH., bài Trăng ý, sđd., tr. 42.
(34) Lời “ghi chú” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ.

(+++) Phụ chú (ngày 9-7-2005): Xin chú thích thêm: 4 câu thơ về lá cờ Mặt trận Giải phóng và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Đó là lá cờ chính thức và chủ yếu ở Miền Nam, trước ngày Hiệp thương Thống nhất (1976). Đoạn thơ ấy trích trong trường ca “Nước non ngàn dặm” của Tố Hữu: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ của đất, màu xanh của trời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay”. Phải chăng đó là lá cờ ngược (sách lược tạm thời)? hay do vô thức chi phối khi Tố Hữu cấu tứ? Có nên truy kích nhau trong phê bình văn học? Tôi (Trần Xuân An), trong những năm về sau, đã mạn phép chữa nghịch lý lại cho hợp lý hơn: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ hừng sáng [trời rạng?], màu xanh biển ngời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của tim người hôm nay”. Tất nhiên, bấy giờ cũng như bây giờ, tôi không dám sửa thơ của người khác (nếu không phải bạn bè, thân quen và có trao đổi chân tình) như vậy, nhất là thơ của Tố Hữu (đã vào văn học sử khi ông còn sống). Ý tưởng này với những hình ảnh ấy, tôi đã thể hiện trong một bài thơ của mình vào năm 1976.
TXA.

Đã gửi: (18. 10. HB4)
Ô. Tần Hoài Dạ Vũ.



____________________________

Bài thứ tám

ĐỌC THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

1

Trước Ngày Thống nhất (1975), những năm còn là học sinh trung học rồi sinh viên đại học, mặc dù ở thị xã Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng hay cố đô Huế, thỉnh thoảng tôi vẫn được nghe lén thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng với một số trí thức, văn nghệ sĩ Miền Nam thuở bấy giờ đang đấu tranh ở nội thành hoặc đã thoát li lên chiến khu, ra Miền Bắc, thường được Đài giới thiệu, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một gương mặt thơ ca tôi chỉ nghe chứ chưa được thấy bao giờ. Chẳng qua, thời anh trực diện đấu tranh ở Huế, tôi vẫn còn quá bé (lại ở tận trong Nam bộ). Năm tôi lên mười (1966), đang ở Quảng Trị, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “lên xanh” cầm súng chiến đấu.
Sau Ngày Thống nhất (1975) khoảng mươi tháng, bấy giờ tôi đã có thơ đăng trên tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng (*), nên khá mạnh dạn đến 26 Lê Lợi, cơ quan của Hội Liên hiệp Văn học – nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, ghé vào, gửi một chùm thơ 09 bài. Cũng không nhớ rõ, một hoặc hai tháng sau gì đó, lúc Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên đã thành lập, tôi nhận được giấy mời đến để trao đổi về biên tập.
Sau khi gặp nhà thơ Xuân Hoàng, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, tôi mới được chuyện trò đôi câu với nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có lẽ đêm trước bận thức khuya để viết, sáng hôm ấy anh đến muộn. Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh. Sau khi tôi chào các anh để về, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường còn giữ tôi lại, cho địa chỉ, bảo tôi đến nhà anh chuyện trò cho vui. Tôi không ngờ một người có dáng vẻ nghiêm nghị, bấy giờ còn có chút nào khắc khổ nữa, lại cởi mở và dễ thân tình đến vậy.
Từ đó đến nay, gần ba mươi năm, thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp anh, khi hội họp, khi đi thực tế do Hội Văn nghệ tổ chức (1976 – 1978), khi gặp gỡ chuyện vãn. Nhiều lần, không chỉ trà lá, mà còn bia rượu nữa, lúc ở nhà riêng của anh và chị Lâm Thị Mỹ Dạ, lúc ở quán xá. Nhưng điều đáng nói nhất, đó là lời anh động viên, khuyến khích tôi sáng tác, giới thiệu thơ tôi trên tạp chí Văn Nghệ Bình Trị Thiên, Sông Hương, và sau này, tạp chí Cửa Việt. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là người đề tựa, cùng nhà văn Xuân Đức cấp giấy phép cho tập thơ đầu tay của tôi (1991).
Bây giờ, tôi lại thử đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, đọc trong những hồi ức về những gì có thể gọi là kỉ niệm ấy. Ấn tượng trong tôi lâu nay về anh, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức Miền Nam tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và là một nhà văn có làm thơ, trong đó có thơ yêu đương, thơ tâm trạng riêng. Nhưng qua hai tập thơ được tuyển chọn lại, cùng một số bài được anh sáng tác sau hai tập ấy, trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (tập 4) (1), tôi có cảm giác vừa hụt hẫng về mặt này, vừa tràn trề về mặt kia.

2

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết về anh trong những cuộc rượu: “Mỗi lúc như vậy, giá có cái máy ghi âm, chép ra chắc sẽ có hàng nghìn trang sách sinh động với một giọng văn hấp dẫn đặc biệt. Điều ấy chứng tỏ rằng, tri thức cuộc đời và sự nghiền ngẫm nội tâm trong anh là vô cùng phong phú. Những bài tuỳ bút anh viết ra mới chỉ là cái phần bề nổi của chính anh mà thôi” (2). Anh Nguyễn Trọng Tạo còn cho rằng: “Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng làm thơ bằng máu của mình, làm thơ như “viết di chúc để mà chết”…”, sau khi đã khẳng định “nhà thơ như nghe thấy được tiếng nói của chính mình từ thế giới bên kia vọng lại, và thế là hai thế giới âm dương cùng hoà quyện vào nhau” (2). Ở bài viết ấy, Nguyễn Trọng Tạo chỉ nhận định về tập thơ thứ hai của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Người đi hái phù dung (1995).
Thú thật, tôi không có cái may mắn như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, được nghe thấy “phần bề sâu” của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, mặc dù cũng có dăm ba lần bia rượu với anh. Anh Nguyễn Trọng Tạo không nói gì đến mảng thơ kháng chiến chống Mỹ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Các anh Hồ Thế Hà, Ngô Minh cũng thế. Chỉ có nhà thơ Thanh Thảo lướt qua mảng này, và khẳng định bài thơ tiêu biểu nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường về đề tài chống Mỹ là Tôi đi trên những con đường rừng cũ (1971 [?]), nhưng rồi cũng xoáy sâu về mảng Người đi hái phù dung.
Tôi hơi ngạc nhiên về sự thể đó.
Theo ấn tượng chủ quan của riêng tôi về Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh có nhiều, rất nhiều tâm trạng, bao nỗi suy tư về cuộc kháng chiến chống Mỹ mà anh trực tiếp tham gia. Từ 1963, anh đã đấu tranh ở nội thành. Sau đó 03 năm (1966), anh thoát li “lên xanh” hẳn, cho đến Ngày Thống nhất (1975), anh mới về lại Huế.
Thật ra, sau gần 30 năm thống nhất Đất nước, đến lúc này, cũng cần nói cho công bằng: Số lượng trí thức Miền Nam như anh (tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, bảo vệ thành công luận văn cử nhân triết học tại Đại học Văn khoa Huế, giáo sư trung học Quốc Học Huế), tham gia kháng chiến chống Mỹ không phải là nhiều, và lại là nhà văn, nhà thơ nữa, thì càng quá hiếm quý. Do đó, với cái nhìn chủ quan có tính trực giác về anh, tôi nghĩ mảng thơ Người đi hái phù dung kia, phần lớn cũng chỉ là hệ quả của bao tâm trạng, bao nỗi suy tư trong quãng đời kháng chiến, nhất là thời hậu chiến mà thôi. Hiểu một cách nào đó, Người đi hái phù dung vừa là phần bề sâu của tâm tư anh thời trẻ mà anh đã từng gạt qua, phủ định nó để lên chiến khu, nay anh phục hồi và thăng hoá lại nó, nhưng đồng thời cũng chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm” (theo lối nói của Ernest Hemmingway), mà phần chìm của tảng băng ấy chính là tâm trạng, suy tư trong thời kháng chiến chống Mỹ, và về sau, những lúc ngẫm nghĩ lại thời kháng chiến ấy, nhưng chủ yếu vẫn là về thời hậu chiến. Nói rõ ra, ở giai đoạn hoà bình về sau, có lẽ anh không thể nói bằng ngôn ngữ trực tiếp, bộc trực, không thể “nói thẳng, nói thật” về thời kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là về hiện thực xã hội hậu chiến, nên chỉ biết lặng lẽ buồn. Ngay việc bị hạn chế tự do ngôn luận, tự do sáng tác đã là nỗi buồn quá lớn! Nhưng anh cũng chỉ đòi cho được mỗi một “quyền được buồn”. Hoàng Phủ Ngọc Tường tự đề từ: “Mỗi người chỉ thực là chính mình trong căn nhà của nó. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải trở về căn-nhà-ở-đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn” (3).
Không kể do nguyên nhân thể chất như bệnh tật, suy nhược hầu như không có ở Hoàng Phủ Ngọc Tường (anh bị bệnh sau khi đã tái bản Người đi hái phù dung), thực chất của trạng thái tâm lí buồn với các cấp độ, sắc thái của nó (buồn bực, buồn bã, buồn đau…) chung quy là hệ quả tâm lí của con người nói chung và cũng của riêng anh, trước thực tại bất như ý, sự đổ vỡ của niềm tin, lí tưởng, hi vọng, ước muốn… Có thể khái quát thành 03 dạng buồn: buồn về mình, hoàn cảnh riêng tư; buồn về kiếp người nói chung; và buồn về hiện thực kháng chiến – xã hội hậu chiến. Nói gọn hơn: buồn riêng tư, buồn kiếp người và buồn đời.
“Quyền được buồn” có một thời gian khá dài, bị cấm ngặt, chỉ trừ một số nét buồn bi tráng. Bởi lẽ, buồn là uỷ mị, là làm giảm sút tinh thần chiến đấu. Buồn bị quy vào phương diện thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa của bản thân ai đó đã “có vấn đề”, và cũng bị quy vào phương diện “bôi đen chế độ” (!), “chống đối chế độ” (!). Nói theo cách nói của cán bộ tuyên truyền, “cách mạng là ngày hội của quần chúng”, không có lí do gì để buồn! Thật là “tả” khuynh quá đáng, suy diễn và quy chụp đến mức đáng sợ! Từ một tiên đề không sai, người ta lại suy diễn ra những hệ luận chỉ với mục đích thiển cận và nhằm trói buộc những người sáng tạo!
Do đó, cần nói thẳng, nói thật thêm một điều, “quyền được buồn” còn là quyền được cân bằng tâm lí bình thường của con người và của văn chương, sau một thời gian dài xã hội đã vui, phải vui, vui thật cũng có, vui giả cũng khá phổ biến.
Ở nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, qua 02 tập thơ của anh, cho dù chia làm hai mảng khác nhau, thơ kháng chiến chống Mỹ và thơ yêu đương, tâm trạng riêng, vẫn có một mối tương quan nhất định và dĩ nhiên.

3

Những dấu chân qua thành phố

Để tìm ra được chân dung tâm hồn, con người sâu thẳm đích thực của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, phải bắt đầu từ tập thơ này.
Năm 1963, phong trào Phật giáo trước đó và ở thời điểm đó dâng cao hào khí bi tráng, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Bấy giờ, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường mới 26 tuổi. Năm anh 28 tuổi (1965), Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, tôi chỉ là thằng bé lên chín, từ Quảng Trị vào Huế chơi, nào biết anh là ai trong đoàn biểu tình, chỉ thấy biểu ngữ nâng cao, bàn thờ Phật “xuống đường”, trầm hương nghi ngút và chuông mõ vang lên khắp các đường phố Huế để chống Thiệu – Kỳ (4). Suốt 03 năm “tham gia phong trào yêu nước của sinh viên học sinh và trí thức Huế với tư cách tổng thư kí Tổng Hội Sinh viên Huế” (5) (1963 – 1964) và đơn thuần là một giáo sư trung học đệ nhị cấp tại Trường Quốc Học (1964 – 1966), Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đang là một trí thức trẻ xấp xỉ tuổi ba mươi. Rất tiếc là thơ anh không có bài nào trực tiếp ghi nhận những thao thức, trăn trở, những dấn thân hào hùng của anh, bạn bè anh và nhân dân Huế trong thời đoạn lịch sử ấy. Điều đó, chỉ được anh hồi ức lại trong 05 năm về sau. Có thể đọc thấy qua một bút kí anh viết về anh và Trịnh Công Sơn (6). Nhưng cố nhiên đó không phải là thơ. Riêng Năm năm ta đi, cũng được viết vào năm 1971:

“… Chắc bây giờ trên những lối đi xưa / Dấu giày ta đã đọng vết rêu mờ / Đã ngủ yên dưới hàng cây im lặng / Bước ta đi giữa ngày tháng ưu tư // Khi ta nhớ, hương sầu đông đầy ngõ / Khi ta yêu, phượng thắm dấu môi son / Thù hận chín giữa phố hè lửa đỏ / Tình yêu ta cùng mọc giữa căm hờn // Chào những bầy hoa ngũ sắc ven đường / Cười sặc sỡ bên khung trời thơ ấu / Chào giã từ con cầu trắng đêm sương / Ta đi qua giữa tâm hồn giông bão // Thành phố tắm đời ta trong sắc biếc / Nên cỏ hoa mang đầy dấu tâm hồn / Máu đã viết nên nghìn trang sử đẹp / Nuôi đời ta khôn lớn giữa đời dân …” (7).

Hoàng Phủ Ngọc Tường bấy giờ không thể không trải qua những “ngày tháng ưu tư”, “thù hận” Diệm, Cẩn – Thiệu, Kỳ và đế quốc Mỹ trong “lửa đỏ” phố thị, đồng thời “tình yêu” Đất nước dâng lên với ngọn triều “căm hờn” của dòng sông Hương vốn phẳng lặng. Với “tâm hồn giông bão”, người trí thức trẻ ấy đã thực sự dấn bước trên con đường lịch sử của một phân số nhân dân hướng về Mặt trận Giải phóng và một phân số khác, đông đảo hơn, quyết tâm “cách mạng quốc gia”, đơn thuần là cách mạng dân tộc, dân chủ và dân sinh, không thuộc đảng phái nào. Tuy khác chính kiến, nhưng tất cả đều cùng tuần hành chung dưới rừng cờ biểu ngữ.

“… Lời đất nước giương trùng trùng biểu ngữ / Người đi lên, tóc lộng nắng như cờ / Đường áo trắng hôm nay thành sông lửa / Nổi đuốc thiêng nhìn rõ mặt quân thù …” (7).

Hiện thực được phản ánh khá chân thực. Tuy nhiên, phải thấy rằng không một dòng nào anh nhắc đến phong trào đấu tranh Phật giáo. Nếu đọc kĩ, ta cũng chỉ phân vân hỏi rằng, phải chăng đây là câu thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường phản ánh một cách hết sức mơ hồ về những toán lính ngụy đang lái xe Dodge, GMC. đi “hốt” những bàn thờ Phật “xuống đường” đấu tranh chống chính quyền Thiên Chúa giáo do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu (4) ?
“Không thể mặc cho loài bán nước / Vung bàn tay cướp đoạt những thiêng liêng” (7).
Phải chăng một trong những lí do nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo sư triết học Trường Trung học Quốc Học Huế, đã lên chiến chu chống Mỹ chính là để bảo vệ Phật giáo trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu?
Dẫu xuất phát từ nguyên cớ trực tiếp là Phật giáo bị đàn áp hay nguyên nhân cơ bản là khát vọng độc lập, trong không khí đấu tranh có thật đó, chàng tuổi trẻ trí thức Hoàng Phủ Ngọc Tường đã quyết tâm lên chiến khu. Ngày lên đường, ở trên “xanh”, anh chỉ có thể nhìn ngắm khắp cả Tổ quốc bằng cái nhìn của tâm hồn và ước vọng thống nhất. Hành trang (8) mang theo của anh có gì?

“Tôi trèo lên đỉnh Trường Sơn / Nhìn thấy quê hương nguyên hình chữ S / Thấy con sông Hồng đỏ máu ra khơi / Thấy mũi Cà Mau nhọn vút chân trời // Đêm giã từ thành phố / Ánh đèn ngoại ô / Hành trang cũ: / Niềm kiêu hãnh lâu đời / Và nắm cơm gian khổ chuyền tay / Từ những chuyến đi xưa còn mãi đến hôm nay”.
(Huế, ngày lên đường, 05. 1966)

Hoàng Phủ Ngọc Tường quyết tâm nối tiếp công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của bao thế hệ trước, qua suốt bốn nghìn năm lịch sử. Bài thơ còn vẽ nên một dáng đứng tuổi trẻ hào hùng trong mạch sử thi truyền thống.
Chính với ước vọng thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc hoạ hình tượng người lên đường, cầm súng, qua những câu đối thoại giữa người thầy giáo với học trò về bản đồ Việt Nam chỉ còn một nửa, trong một tiết học địa lí. Và chính sử kí đã thôi thúc nhà giáo ấy lên chiến khu như Nguyễn Trãi ngày xưa. Niềm thôi thúc ấy càng rõ hơn khi cuộc đối thoại xoáy vào một vấn đề lưu cữu (thù hận lương – giáo, thực chất là giữa người Việt yêu nước với giáo dân bị thực dân, đế quốc lợi dụng) suốt cả một trăm mấy mươi năm qua trong Mùa Giáng sinh 1966:

“… Em hỏi thầy: Bom Mỹ / Có giết trẻ con không? Rằng: Làng quê khói lửa / Nào thương Chúa Hài Đồng / Em nhớ bày máng cỏ / Ở trong hầm ca-nông …” (9).

Hành vi rất chính trị đó, cũng không tránh được sự sát hại của lính Mỹ đối với mẹ của người học trò. Điểm đỉnh của câu chuyện bằng thơ đọng và mở ở câu kết, neo vào lòng người đọc: “Đừng hỏi nữa em ơi! / Thầy lên đường đánh Mỹ”. Phải trả lời cho thế hệ học trò bằng hành động lên đường, cầm súng! Bài Câu hỏi có thể được quần chúng nhân dân nhớ lâu, nhớ sâu bởi các chi tiết tinh lọc và vần, chứ không phải bằng ngôn ngữ thơ. Khác với nhà thơ liệt sĩ Ngô Kha (cũng là giáo sư trung học như anh), mặc dù hai người là bạn rất thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường từ độ mới lên chiến khu ấy, đã cố gắng vứt bỏ hết những ngôn từ bay bướm, tinh tế, giàu hình ảnh với sự chạm trổ, khảm giát lóng lánh một cách đài các, cầu kì, khó hiểu trong thơ.
Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự biểu hiện chính mình qua hình tượng người thầy giáo sử địa ấy.
Hoá ra, qua bài Câu hỏi và bài Hành trang, ta thấy sự chọn lựa con đường đấu tranh, việc lên chiến khu rừng thẳm đầy gian khổ của anh quá đỗi đơn giản và anh dễ dàng thích nghi đến thế. Tôi không thể tin như vậy. Nhưng tôi tin chắc một điều, có một thời kì, vì trách nhiệm trước người đọc và vì yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, nhà thơ cần phải “lột xác” thật nhanh, phải giấu đi những trăn trở về tư tưởng, những thử thách của bao khó khăn gian khổ. Chính Trần Độ, về sau, khoảng năm 1976, cũng bảo thế trong một cuộc họp mặt người viết ở 26 Lê Lợi, Huế: Trí thức đã trăn trở, “lột xác” từ 1945 hoặc từ 1954 kia, chứ không đợi đến những năm sau này; cho nên, chỉ có lao vào cách mạng chứ không trăn trở, thao thức “chọn đường” gì nữa! Phải chăng từ mười năm trước tư tưởng chỉ đạo đã thế, nên thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường khuyết đi những mảng rất lớn. Hầu như sau Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên (1960), rất ít bài thơ trăn trở, thao thức “chọn đường” được đăng tải. Thậm chí, có thể bị khiển trách, bị làm kiểm điểm nếu còn trăn trở, thao thức “chọn đường”! Do đó, tôi rất ngạc nhiên nhưng lại hiểu ra ngay, sao mảng thơ “lên đường” này của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại sơ lược đến thế. Tâm hồn anh, tư tưởng anh không thể “sơ lược” như vậy.
Có lẽ phải ngẫm nghĩ lại, ngẫm nghĩ sâu hơn về ý thức lịch sử của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong quá trình bản thân anh đã dấn thân, tham gia vào công cuộc chống chính quyền Thiên Chúa giáo của Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ. Tôi thấy đây là một trong những trọng điểm trong niềm thao thức, trong quyết tâm của anh. Ở bài Những dấu chân qua thành phố (10), anh viết:

“Như thời gian gió cuốn triều dâng / Lịch sử đã qua đây trăm lần / Những người đi sau nối theo người trước / Thành phố này in dấu những bàn chân // Từ những năm xưa đánh Tây giữ nước / Hoả mai nón dấu, súng thần công / Đến bây giờ trên mặt thành cỏ biếc / Đá trăm năm còn tạc dấu chân trần // Nắng vẫn chiếu huy hoàng trên cẩm thạch / Những bàn chân đạp đổ ngai vàng / Đất rung chuyển nhịp chân vệ quốc / Vòm cửa ô, kèn Nam tiến còn vang …”.

Bằng hình tượng dấu chân lịch sử, phải chăng anh đã hình dung lại thành cổ Phú Xuân, nơi Nguyễn Huệ của phong trào Tây Sơn đã đánh tan quân Trịnh để tiến tới thống nhất Tổ quốc? Cũng với hình tượng dấu chân lịch sử ấy, anh cảm nhận lại cuộc kinh đô quật khởi 23 tháng 5 Ất dậu (1885); và anh tiếp tục hình dung, cũng bàn chân lịch sử ấy, vào thời Cách mạng tháng tám (1945), đã đạp đổ ngai vàng, buộc vua bù nhìn Bảo Đại thoái vị.
Rất tiếc là khi viết Tôi đi trên những con đường rừng cũ (11), anh không nhớ lại Tân Sở (Cam Lộ) với tuyến đường thượng đạo Bình Định – Nghệ An – Hưng Hoá, thời Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và phong trào Cần vương.
Ở Trở lại đất Hùng (1975) (12), Hoàng Phủ Ngọc Tường suy nghĩ về tiếng trống đồng (từng khiến sứ giả nhà Nguyên bạc tóc khi nghe), suy nghĩ về 99 ngọn núi Nghĩa Lĩnh (hình tượng đàn voi trăm con; một con voi trong đàn voi ấy đã ngoái đầu ra sau, nên bị chém đầu). Anh lại suy nghĩ về phút giây Nguyễn Trãi cùng người cha là Nguyễn Phi Khanh chia tay nhau ở Lạng Sơn, cột mốc số 0 của bản đồ Đất nước, trong bài Ngọn cỏ làm chứng (13):

“Nơi đây một người con trai lau nước mắt từ biệt cha / Nỗi riêng chung, cỏ hoa làm chứng đến bây giờ / Từ cây số không, bắt đầu những gì ta có / Nên lịch sử mỗi đời người cũng bắt đầu từ đó”.

Và cũng theo mạch sử thi ấy, anh chọn cho mình một chỗ đứng, ngay trên lầu hoàng cung nhà Nguyễn, để Lại nhớ về chiến khu xa thẳm (14), khi Đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất, sau cuộc chiến tranh dài dằng dăïc (1858 – 1975), mà trong đó, giai đoạn kháng chiến chỉ kể từ Cách mạng tháng Tám là quãng thời gian chính nhà thơ đã được lớn lên, tham gia chiến đấu.
Cũng từ cảm hứng và ý thức lịch sử, cộng với suy nghĩ về thi sĩ cộng sản người Pháp Paul Éluard, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết từ năm 1969:

“Pha máu làm mực / Kê lịch sử làm bàn / Trải đời tôi làm giấy / Viết tên Người Việt Nam” (15).

Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ kháng chiến với trái tim một người yêu nước mà còn bằng bộ não của một người cộng sản nơi anh.
Cảm hứng, ý thức lịch sử và ý chí cộng sản chủ nghĩa là trạng thái tinh thần chủ đạo, chung nhất của những nhà thơ Miền Bắc và những nhà thơ Miền Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ dưới ngọn cờ của Mặt trận Giải phóng, nhưng ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, có sự nổi trội, đậm đặc hơn.
Cũng không thể không ghi nhận sự thành công và nhất là tấm lòng nhà thơ đối với quê nhà. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn viết một chùm thơ về một vùng đất Quảng Trị đã được giải phóng từ 1972. Trong đó, bài thơ Bàn tay trên trán (16) viết về người mẹ Gio Linh có cái tên rất Việt cổ: Mẹ Nậy. Đó là một bài thơ rất cảm động. Cũng là cảm hứng sử thi về Đất nước, nhưng ta còn thấy được tuổi thơ của chính nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trên đất đai Quảng Trị quê hương bản quán qua những câu thơ rất gần gũi:

“… Như quên đi mình đã lớn nhiều / Với thời gian ồn ào biến động / Con gặp lại trong cơn mê nóng bỏng / Một tuổi thơ chân đất chạy khắp làng / Và cánh đồng xưa nắng chang chang / Lũ chuồn chuồn bay qua những tháng ngày óng ả / Như quên mình đã lớn nhiều / Với đất nước những năm lo nghĩ / Vầng trán con dưới bàn tay mẹ / Lại hiện về giấc ngủ thơ ngây …”.

Cảm hứng – ý thức lịch sử, hay có thể gọi là tình tự dân tộc, quê hương, Đất nước và ý chí kháng chiến, quả thật, đã xuyên thấm toàn bộ tập thơ Những dấu chân qua thành phố của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ở bất kì bài nào, với chủ đề gì, kể cả chùm thơ khi anh viết ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Cáclôpherơ (Bungari)…
Về mảng thơ kháng chiến chống chế độ Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất Đất nước của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, nếu từ một góc độ văn học khác để tiếp cận, ta sẽ không thấy một dấu vết bi quan, dao động nào. “Quyền được buồn” đã được nhà thơ giấu kín vì ý thức trách nhiệm.
Ngoài ra, nếu cần thiết phải nói đến lập trường, tâm thế sáng tác trong tương quan với hiện thực chiến tranh chống Mỹ ngụy mà nay đã trở thành lịch sử, thì cũng đã đến lúc, sau 30 năm thống nhất Đất nước. Phải chăng không thể để muộn hơn? Ở một số bài thơ khác, nếu đọc bằng đôi mắt sử học, người ta còn thấy anh miêu tả hiện thực với thái độ địch – ta quá “quyết liệt” bằng thủ pháp cường điệu! Ở đây, tôi không nói đến Diệm – Thiệu và các tổng thống đế quốc Mỹ, tôi chỉ muốn nói đến những người quốc gia, dân tộc chủ nghĩa, yêu nước nhưng không cộng sản, không thể vô thần một cách phi truyền thống. Dẫu sao, nếu nói theo cách của Chế Lan Viên sau này, cũng cần phải “trừ đi”, để nhận thức hiện thực lịch sử về giai đoạn ấy trong thơ ca cho thật đúng đắn, công bằng. Tuy nhiên, như ở một bài viết tôi đã viết, thơ ca không phải là sử kí. Thơ ca không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà chủ yếu là tấm gương phản ánh tâm thế nội tâm của nhà thơ trước hiện thực ấy (**). Nhà thơ lại đang trực diện đấu tranh với quân bán nước Diệm, Thiệu và đế quốc Mỹ, vì vậy, tất nhiên trái tim nhà thơ phải sục sôi căm thù, không thể có sự bình tâm cần thiết của nhà sử học. Không thể đòi hỏi nhà thơ phải có cái nhìn hai phía, nhìn từ ta sang địch và ngược lại, nhìn từ địch sang ta, để có nhữngï nhận định khách quan, khoa học. Nếu đòi hỏi như vậy, thế giới này không còn một nhà thơ nào cả! Phải vậy chăng? Tôi tin rằng cuộc đời vốn đa dạng, nhiều vẻ (với cái nhìn bao quát đồng đại), và dân tộc cũng như nhân loại không chỉ tồn tại vài ba thế hệ (với cái nhìn xuyên suốt lịch đại). Vấn đề là hiện thực chiến tranh 130 năm (1858 – 1975 – 1989), đặc biệt là 30 năm (1945 – 1975) khốc liệt nhất, hào hùng nhất ấy, dù thế nào đi nữa, cũng đã và đang hình thành nên một giai đoạn văn học trên toàn cõi Việt Nam nước ta với tính đa dạng, nhiều vẻ của nó. Và hiện thực chiến tranh ấy sẽ mãi mãi còn được vang vọng, tái hiện, tái tạo trong văn học tương lai, như ta và mãi mãi sau này, các thế hệ vẫn còn suy tư, chiêm nghiệm về thời đại vua Hùng; về thuở đánh bại đế quốc Nguyên – Mông; về thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi cùng nhân dân viết Bình Ngô đại cáo bằng máu và khát vọng độc lập, tự do; về thời mở đất phương Nam và đau thương chinh chiến do Trịnh – Nguyễn phân tranh, cùng vai trò lịch sử của Quang Trung, Gia Long trong sự nghiệp thống nhất non sông Đàng Trong – Đàng Ngoài… Nhưng cho dẫu nhìn xa, nhìn rộng là vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường và những nhà thơ, nhà văn đồng đội Giải phóng quân của anh vẫn mãi để lại trong văn học sử những gì đã viết, không thế lực nào có thể bôi xoá được, mặc dù trong đó, một số trang viết chỉ còn có giá trị như những tư liệu.

4

Người hái phù dung

Hình như có khá nhiều năm sau Ngày Thống nhất (1975), Hoàng Phủ Ngọc Tường thi thoảng mới làm thơ. Có lẽ hơn mười năm, anh chuyên chú với thể văn bút kí, nhất là sau thành công của Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đặt tên cho dòng sông (1984)… Rất tiếc là ở cuối mỗi bài thơ, không phải bài nào anh cũng ghi ngày tháng năm và nơi sáng tác để có thể xác định, chứ không chỉ là phỏng đoán.
Người hái phù dung là tập thơ tích đọng lại sau hơn 20 năm (1976 – 1997). Ở Tuyển tậâp, tập 4, gộp vào phần Người hái phù dung, còn một số bài thơ khác, được viết vào năm 2001. Thời điểm muộn nhất là cuối mùa đông năm Tân tị, 25. 12. 2001.
Người hái phù dung, mảng thơ yêu đương và thơ tâm trạng riêng tư (xin được tạm gọi như thế), trước hết là vẻ đẹp chóng tàn của hiện thực cách mạng xã hội ở Đông Âu và Liên Xô. Phải chăng, theo anh, đó cũng là vẻ đẹp mong manh, thoắt thắm thoắt phai của loài hoa phù dung?
Mặc dù tâm trạng trong bài thơ mang tên Bài ngâm “đùa chơi” (17) chỉ có ở anh vào năm 1991, hoặc tâm trạng đó vốn đã có trước (kể từ 1885) nhưng chỉ được anh thể hiện vào năm 1991 ấy, năm có sự kiện Liên Xô sụp đổ, sau khi một loạt nước thuộc hệ thống chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tan hoang. Vài dòng chữ này, tôi viết về anh, cũng chỉ là cảm nhận phỏng đoán trên cơ sở văn bản nghệ thuật là phần thơ thứ hai của anh.
Bài ngâm “đùa chơi”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đề tặng Irina Zisman, không thuộc tập thơ Những dấu chân qua thành phố (1976), mà ở tập Người hái phù dung (1995 & 1997). Tự bài thơ đã toả ra hết những cung bậc suy tư, tình cảm trong tâm trạng anh, một trí thức yêu nước đồng thời là một đảng viên cộng sản, cho dẫu anh thuộc vào những người trí thức được kết nạp Đảng rất muộn.

“Đùa thôi nhé, thiên đường mộng ảo / Thế giới vỡ tan ngoài chân mây / Cầm giấc mơ xanh vàng tím đỏ / Ngoảnh lại nhìn nấm mọc đầy tay // Ta đi hết một thời trai trẻ / Tìm thanh gươm nghĩa khí nghìn thu / Đùa thôi nhé sắc cỏ vàng trên mộ / Anh hùng xưa biệt dấu sương mù // Và tất cả những điều đã nói / Bằng con tim máu nóng dâng trào / Cũng đùa thôi, nhớ chi hoài mệt óc / Chuyện nói cười một thuở gian lao // Ta tìm lại hình hài hoá bướm / Chút tự do quả thực trên đời / Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng / Núi thông nhiều, ta hãy rong chơi // Chú tiều ơi, chú tiều xưa cổ / Lời du ca lảnh lói gọi ta về / Cuộc phong trần ta may còn hồ rượu / Để cùng người kết bạn sơn khê // Tiều rằng đã từ lâu chẳng dại / Kìa như tranh vân cẩu trên trời / Những tấn kịch thánh thần sa nước mắt / Thế gian này cũng chuyện đùa thôi… // Còn cho ta một trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày / Mai chú lại lên đồi hái củi / Ta về rừng gối đá ngủ say” (17).

Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cười cợt hết thảy một cách đau xót, buồn bã, trước sự sụp đổ hầu hết các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, ngay cả “thành trì” Liên Xô, và trước tình trạng ở 03 nước rưỡi còn lại, chủ nghĩa xã hội đã chuyển qua kinh tế thị trường trong lộ trình hoà nhập với thế giới tư bản chủ nghĩa? Anh chỉ biết quay về với Lão Trang qua hình tượng chú tiều xưa cổ, tìm lấy tự do cá nhân theo tiêu dao du và tề vật luận trong Nam Hoa kinh, với giấc mộng “không biết Trang hoá bướm hay bướm hoá thành Trang”! Thế giới hiện thực này, đối với anh, cho dù dụi mắt bao lần, anh cũng thấy rõ là y hệt trên trời cao, mây nhẹ như là áo trắng, bỗng chốc hoá thành chó đen, trong thơ Đỗ Phủ (“Thiên thượng phù vân như bạch y / Tu du hốt biến vi thương cẩu”).
Dẫu cho thế cuộc ra sao, người đọc cũng thấy được Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà thơ đã từng dám phản kháng, quyết tâm dấn thân theo sự chọn lựa của mình với ước muốn chất chứa tất cả Đất nước và nhân dân vào trái tim mình, theo một lí tưởng đại đồng bao năm đeo đuổi mà bây giờ anh tự trào là “đam mê hoang tưởng”. Hẳn anh cũng tự nhận thấy thế, khi những câu kết bài thơ gợi ta liên tưởng đến Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi (“Côn Sơn có suối đàn cầm / Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi…”):

“… Còn cho ta một trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày …”.

Dẫu sao, anh cũng không phải rơi vào bi kịch Huyền thoại Sisyphe (1942) của Albert Camus (1913 – 1960): hết lòng hết sức lăn tảng đá lên núi, rồi lại hạnh phúc (!) buông tay, cho tảng đá rơi xuống chân núi, và lại tiếp tục như bi kịch dã tràng, như bi kịch loài người. Huyền thoại Sisyphe được Bùi Giáng phỏng dịch nhan đề là Xe cát biển Đông!
Hình ảnh con dã tràng cũng được Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc đến trong bài Lời ngu ngơ của một gã mù chữ (18). Hình như đó là một bài thơ thể hiện một ước muốn, bằng một thứ ngôn ngữ mới của trái tim anh, anh nhận thức lại thế giới của riêng anh và cả thế giới của loài người, như thể sau một lần hành tinh này lại được tái tạo.

“Và khi thế giới được tái tạo trong ngôn ngữ mới / ta đọc hết nét ngu ngơ trên biển / của con dã tràng tiền sử / mê mải / viết / tên em”.

Điều đó, anh đã chiêm nghiệm, trong bài Gửi cho người (19):

“Tài hoa cũng chuyện đùa chơi / Làm sao thưa hết một lời yêu thương / Anh đi tìm khắp thiên đường / Chỉ còn một đoá vô thường gửi em”.

Nỗi đau “vỡ mộng” ở anh, tôi đoán rằng, không phải đến 1991, mới oà vỡ thành Bài ngâm “đùa chơi”, mà từ lâu rồi, trước đó… Phải chăng đây là những gì anh đã giấu kín trong tập Những dấu chân qua thành phố? Đúng là chùm thơ lục bát có tên chung Đoản khúc ở rừng (20), thể hiện những thoáng buồn rất bình thường trong những tháng ngày đang cầm súng trên Trường Sơn ở các chiến khu Trị – Thiên. Đó là nỗi buồn ngay sau ngày rời Huế lên đường kháng chiến: “Hoa nào nở buổi lâm hành / Con chim nào hát ngày anh lên đường / Đêm đông nghe đổ mưa nguồn / Nghe thời gian xoã sợi buồn xuống vai” (20). Đó là nỗi nhớ về người yêu đã xa, phía dưới miền xuôi phố thị kia: “Xa rồi, em đã như mây / Vùi trong trí nhớ những ngày gấm hương …” (20). Đó là tâm trạng người kháng chiến ở chiến khu nhớ về thuở nồng thơm yêu dấu đã không còn vết tích kỉ niệm trong trí nhớ ai đó: “… Vỗ tay vách đá vọng âm / Nhớ niên hoa, chợt bâng khuâng nụ cười” (20). Nhưng những bài thơ thương nhớ, buồn bã và luyến tiếc bâng khuâng ấy một thời bị “niêm phong” giấu kín, không thể in được trong tập Những dấu chân qua thành phố (1976). Gần đây mới có thể in ở Người đi hái phù dung (1997). Những cảm xúc ấy giả định không có ở người kháng chiến, mà chỉ vui vẻ, hồ hởi thôi, thì mới là máy móc, bất bình thường. Điều đáng chú ý, chính là nỗi đau “vỡ mộng” chăng? Trước hết là thực tế núi rừng gian khổ, đói cơm nhạt muối, sên vắt, sốt rét, tất nhiên không phải là sách vở trong thư viện đại học. Khi đã quen với gian khổ như thư sinh Nguyễn Trãi ngày xưa quen chịu đựng với sơn lam chướng khí, anh lại tự đương đầu với nỗi buồn có chiều sâu nhận thức và “vỡ mộng” chăng? Với sự trải nghiệm, quan sát của bản thân, tôi tin ai cũng có thể chịu đựng được gian khổ, nếu họ có ý chí, nghị lực và khát vọng cao cả. Hoàng Phủ Ngọc Tường có thừa những cái ấy, sao anh vẫn buồn đến thế này?

“Thôi em xa thẳm Trường Sơn / Ngày xưa anh vẫn cô đơn đã thường / Đêm qua nằm nhớ mưa nguồn / Con chim tắt lửa kêu buồn mấy năm // Thôi em ròng rã suối khe / Anh về mắc võng nằm mê đợi người / Đêm qua nhớ lũ đười ươi / Lang thang rũ một trận cười trong mây” (21).

Có bao giờ ta nghe nói đến hay tận mắt chứng kiến “rừng cười” với những cơn dịch cười vô nghĩa lí, kéo dài đến kinh hoàng, sởn gáy? Đó còn là một phủ nhận sự vô nghĩa lí của chiến tranh giữa con người với con người, nước này với nước kia? Và còn gì nữa chứ không chỉ thế…
Điều tôi cảm nhận về Bài ngâm “đùa chơi” phải chăng vốn có cơ sở như thế?

Thôi em cảm tạ chờ mong
Ngày anh đi hái phù dung chưa về
Đêm qua hương đã tàn mê
Mày ai còn dấu trăng thề như in (21).

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà thơ suốt một đời đi tìm cái đẹp mong manh và chóng tàn phai? Và ai là người chung thuỷ đợi chờ? Phải chăng lòng chung thuỷ mới vĩnh cửu (trong ý nghĩa tương đối), còn nhan sắc vốn chóng tàn phai? Không phải anh không khát vọng vĩnh cửu. Thực ra, hơn ai hết, anh quá yêu vĩnh cửu và luôn luôn cháy bỏng khát vọng về cái đẹp vĩnh cửu (chẳng hạn như nhan sắc cùng thuỷ chung, mãi mãi không bao giờ héo úa, phản bội). Có điều, sao anh lại buông ra tiếng thốt như lời ngăn, lời khuyên “thôi đừng hoài công” với những giá trị mà nhan sắc cùng thuỷ chung chỉ là một trong những giá trị đó. Bàn tay lao động ư? Tuổi trẻ ngày xanh ư? Con người nhân văn ư? Thôi, chẳng còn gì! Ngay trò chơi, cuộc rượu tình bạn cũng tàn! Trường Sơn kháng chiến ư? Chờ đợi con người lí tưởng đích thực như hoài vọng, như nghinh vọng ư, mặc dù để rồi thất vọng mà thôi, cho dù ý thức hoài vọng, nghinh vọng con người lí tưởng đích thực (21) cũng là một giá trị?
Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn thông qua những hình ảnh cụ thể để nói đến ý niệm phổ quát về cõi sống mong manh, dâu bể (“thương hải biến vi tang điền”; “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”), mà Nguyễn Du gọi là “cõi người ta” này? Cho dù thời gian và vật chất trong ý niệm là vô thuỷ vô chung, vô cùng, vô tận, nhưng ở dạng cụ thể, ngày tháng như vó ngựa câu qua cửa sổ, kiếp người, kiếp hoa chỉ là hạt bụi trong bão gió. Nhưng vĩnh cửu và chóng tàn là hai mặt của một chỉnh thể nhận thức – khát vọng: biết rằng tất cả những gì ta thấy được đều chỉ là phù dung, phù du nhưng làm sao cấm được lòng ta khát khao vĩnh cửu tuyệt đối trên trần gian này!
Rốt lại, thực chất Đêm qua chỉ là một nỗi buồn bầm thẫm, khi chợt đến lúc nỗi buồn ấy đã chín và rụng rơi, như quả táo Newton, nhưng không phải là tình cờ giúp anh phát hiện quy luật vật lí mới, như đã giúp Newton thức ngộ về quy luật trọng lực trong thế giới tự nhiên (vạn vật hấp dẫn đối với quả đất), mà về thế sự, thời cuộc, và lí tưởng vỡ tan trong quy luật âm dương ảo hoá (thiện hoá ác, ác hoá thiện; “quá mù sa mưa”…), quy luật âm dương (thiện, ác; và muôn vạn cặp đối lập cụ thể khác) tương khắc tương sinh và quy luật quân bình âm – dương (như mưa – nắng thuận hoà…). Có lẽ tôi đã đẩy liên tưởng thơ ca và đồng sáng tạo khi đọc thơ đi quá xa!
Đêm qua chỉ là lúc trái “vỡ mộng” chín rụng, vỡ oà.
Người hái phù dung chủ yếu vẫn là một mảng thơ ghi lại những cảm xúc, trầm tư về những chủ đề muôn thuở, khắc khoải nhất của triết học và của tâm thức con người ở mọi nơi, mọi thuở:
- Thời gian
- Kiếp người
- Tình yêu – hạnh phúc
- Cô đơn – khổ đau
- Cái chết
- Tự do
- Hư vô (hay linh hồn, thượng đế) …v.v…
Phải chăng, tất cả những chủ đề triết học của các triết gia cũng là niềm khắc khoải của mọi con người bình thường nhất ấy đã được nhà thơ tư tưởng Hoàng Phủ Ngọc Tường chiêm nghiệm thông qua những khoảnh khắc tái hiện cảm xúc trước hiện thực sinh động, thường ngày, trên ý niệm tất thảy đều là vẻ đẹp mong manh, thoáng chốc, vẻ đẹp có thật mà rất đỗi hư ảo như hoa phù dung?
Bài thơ Dù năm dù tháng (22), tôi được đọc lần đầu tiên trong một tuyển tập thơ nhiều tác giả được xuất bản ở Huế giữa những năm 80 gần đây, dễ chừng cũng hai mươi năm rồi. Ở bài thơ này, có lẽ lần đầu tiên ý niệm mong manh, thoáng chốc, có thật mà hư ảo của biểu tượng hoa phù dung cổ điển xuất hiện trong thơ của tác giả Những dấu chân qua thành phố. Nhưng cụ thể hơn, ở đây là thời gian phù dung. Bài thơ được kết cấu theo dạng trình bày – gút lại. Theo tuần tự, đó là vẻ mong manh, thoáng chốc của một ngày; vẻ mong manh, thoáng chốc của một tháng; vẻ mong manh, thoáng chốc của một năm; rồi vẻ mong manh, thoáng chốc của một đời. Ngày, tháng, năm và cả đời người đều được biểu hiện bằng hai màu trắng và tím (màu mới nở và màu úa tàn) của hoa phù dung. Đoạn kết gút lại ý niệm về tính chất mong manh, thoáng chốc đó bằng cách nâng cao lên ý niệm ấy trong sự đối lập với ý niệm vĩnh cửu. Dù năm dù tháng còn là một bài thơ rất đẹp về ngôn từ, hình ảnh. Dù năm dù tháng được thể hiện trong nhạc điệu lục ngôn, hầu như chủ đạo vẫn là nhịp hai hoặc nhịp hai – bốn, đều đặn, trầm lắng, chỉ hai câu bắt đầu bằng hai từ “nhưng”, “nhưng lòng anh \ vẫn khôn nguôi” và “nhưng trái tim \ mang vĩnh cửu”, là nhịp 3 \ 3, như tiếng thốt nên lời phản đề nhức nhối, da diết. Thực sự có vĩnh cửu chăng? Đó là thời gian vô cùng vô tận? Là sự trường tồn nòi giống, huyết hệ? Là khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần gian mặc dù đó là ảo vọng (tuy chỉ là ảo vọng nhưng khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần gian ấy vẫn không bao giờ tàn lụi một khi loài người còn tồn tại)? Là hi vọng về giá trị văn chương vĩnh viễn không bao giờ đổ vỡ? Hay trái tim hữu hạn mang chân lí vĩnh cửu? Dẫu cho với một ý nghĩa nào đó hoặc bao gồm tất cả các ý nghĩa ấy, thì đoạn kết được thể hiện trong sự đối lập ý niệm (mong manh, thoáng chốc – vĩnh cửu, vĩnh hằng) cũng làm cho phù dung càng phù dung hơn, nhưng cái phù dung ấy vẫn là một hạt ngọc của sợi dây chuyền thời gian được xâu kết bằng muôn muôn triệu triệu hạt ngọc.
Phải yêu đời lắm, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới buồn như thế về tính chất phù dung của thời gian, đời người…
Và cũng phải yêu nàng thơ (hoặc yêu vợ) lắm, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới viết được Nơi tôi gửi bóng (23). Cũng kết cấu trình bày – gút lại như thế, bài Nơi tôi gửi bóng lại đạt được một cái kết bất ngờ. Cách cấu tứ này không phải là mới, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng một cách tài hoa và nhuần nhị, nhờ vào hình ảnh, ngôn từ và chiều sâu tư duy. Ẩn dụ hình tượng chiếc giếng nước được trình bày đến 06 khổ thơ, đến đoạn kết, bất ngờ bật sáng lên, trở thành hình ảnh nàng thơ (hoặc người vợ). Đây là hai khổ thơ làm nên đoạn kết ấy:

“Có gì đâu xa xôi / Sao mà em bỡ ngỡ / Giếng thẳm sâu đời tôi / Là đời em đó thôi // Giữ hoài cho màu nước / Sáng hoài như lòng tin / Đừng để thấy trong em / Gương mặt tôi tan vỡ”.

Cũng thuộc loại kết cấu trình bày – gút lại như thế, ta còn thấy anh sử dụng ở bài Bốn mùa (24). Xuân, hạ, thu, mỗi mùa đều có một loài hoa biểu trưng nhất theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, đó là bông cỏ dân dã, phượng đỏ thế hệ, cúc vàng nữ sĩ, duy mùa đông, bất ngờ và thú vị thay, khi “hoa vắng nở trên cành / gương mặt em xinh đẹp / làm hoa cho riêng anh?”. Nhưng đối với thơ, đâu chỉ là cách cấu tứ! Tứ thơ mới là điều không thể non kém.
Và điều tôi muốn nói, là Hoàng Phủ Ngọc Tường vốn là một trí thức, một văn nghệ sĩ đã từng nung nấu lí tưởng. Anh tham gia kháng chiến không phải vì nghĩa vụ quân sự bắt buộc hoặc không thể chọn lựa được con đường theo chính kiến mình (giả định chính kiến anh xưa nay không phải là “con đường” Hồ Chí Minh). Từ thành phố Huế, anh lên đường vào chiến khu vì lí tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Có nung nấu khát vọng lí tưởng xã hội chủ nghĩa đến thế nên anh mới “vỡ mộng” đau đớn như thế khi nhìn thấy lí tưởng được thực hiện trong thực tế đáng chán, trì trệ, mất tự do, dân chủ như thế nào, và nhất là khi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới hầu hết đã sụp đổ, thoái trào đến mức vô phương cứu vãn (?).Chịu đựng cơn đau đớn “vỡ mộng” này chưa nguôi, lại bị số phận giáng cho một nỗi đau riêng tư tức tưởi nhất. Điều này, tôi chỉ có thể đọc thấy trong thơ của anh như một sự phỏng đoán. Phỏng đoán qua thơ? Vâng, chỉ là phỏng đoán. Thơ vốn là thể loại hư cấu nữa! Chỉ tấm lòng anh, nỗi đau anh là thật. Phải chăng đó là sự đổ vỡ trong … chút tình thơ của anh? Một khi đã yêu nàng thơ đến thế (qua ba bài thơ Dù năm dù tháng, Nơi tôi gửi bóng và Bốn mùa, anh không đề tặng ai), bỗng dưng, tình yêu đương rất thơ đó đổ vỡ ngoài ý muốn của anh, Hoàng Phủ Ngọc Tường rơi vào nỗi buồn bi thảm nhất. Này đây là thơ anh viết, Về chơi với cỏ (25):

“Thưa rằng người đã quên tôi / Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may / Một đường hoang một dấu giày / Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng // Cảm ơn người trái đào tiên / Tôi về lãng đãng nơi miền cỏ gai / Cỏ gai hoa thắm mặt người / Trinh nữ ơi trinh nữ ơi – tôi buồn / Thôi người ở lại soi gương / Tôi đi về phía con đường cỏ lau / Nợ người một khối u sầu / Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi // Mai kia rồi cũng xa người / Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa / Có nàng xoã tóc tiên nga / Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”.

Đó là sự ra đi, thoát khỏi nàng thơ cụ thể một cách cao thượng. Không những không oán trách, anh còn cho rằng mình dẫu sao cũng mang nợ. Nợ gì? Phải chăng trót để nàng thơ ấy trĩu một khối u sầu trong trống vắng, khiến nàng thơ không thể cam chịu được nữa, để rồi sau bao ngày tháng anh rong ruổi, lúc quay về, sự đổ vỡ không ngờ đã xảy ra? Mối tình Nàng Trương (Vũ Thị Thiệt) và chiếc bóng trên vách ư? Hay đó là sự thật nhãn tiền đau đớn giữa anh và sự lạt lòng của nàng thơ? Dẫu sao, anh cũng tự trách mình, vẫn gọi nàng thơ ấy là trinh nữ theo quan niệm “chữ trinh kia cũng có dăm bảy đường” của Nguyễn Du (trong ý hướng an ủi của ông)? Cuối cùng, anh vẫn hi vọng một ngày kia rồi anh cũng sẽ chết, nàng thơ ấy trót vì u sầu mà lầm lỡ với ai đó sẽ hối hận, “quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”?
Tôi thấy hình như Hoàng Phủ Ngọc Tường còn có chất hiệp sĩ, như trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Cửa Việt, anh tự nhận mình chính là “hiệp sĩ mặt buồn”. Phải chăng anh còn là “hiệp sĩ mặt buồn” cao thượng kiểu lãng mạn chủ nghĩa trong sự đổ vỡ chút tình thơ riêng tư này, giữa thời kì tục dụng chủ nghĩa, cạm bẫy giăng đầy này. Tôi cầu mong sao sự đổ vỡ chỉ là trong thơ, và chỉ trong thơ mà thôi.
Phải chăng không những lí tưởng cách mạng xã hội, và thời gian – kiếp người, cùng những giá trị như bàn tay lao động, tuổi trẻ ngày xanh, con người nhân văn, cuộc rượu tình bạn, Trường Sơn kháng chiến, ý thức hoài vọng, nghinh vọng con người lí tưởng đích thực (21)… đều là phù dung, mà cả tình thơ cũng quá đỗi phù dung! Tất cả chỉ là vẻ đẹp mong manh, thoáng chốc, có thật mà hư ảo. Còn nỗi đau khổ trong trái tim anh, nỗi cô đơn của anh, cũng phù dung chăng?
Có lẽ từ những nguyên nhân đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở giai đoạn về sau, càng có khuynh hướng suy tư, chiêm nghiệm lại chủ đề cô đơn, cái chết, hư vô – linh hồn…
Có một điều, tôi thấy anh không bao giờ nói đến Thượng đế theo quan niệm tôn giáo (đấng siêu hình được nhân hoá). Anh vẫn là một thi sĩ vô thần, mặc dù có lẽ anh tin có linh hồn (một dạng siêu vật chất).
Cô đơn của anh lắm khi là sự xa lánh mọi người, để một mình anh đối diện với chính anh trong thiên nhiên cỏ cây sương khói. Bài Thiền định (26) kể về một “ngày ấy” xa xôi nào đó và cả bây giờ: “Tôi vẫn ngồi trong gió heo may / Một phiến hồ thu, nước lại đầy / Ngày không thiên sứ / chiều không nắng / Chỉ một mình tôi với bóng mây // Em kể tôi nghe chuyện núi đồi / Chỉ là ảo tưởng đấy mà thôi / Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy / Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi ”, và cuối cùng xa lánh với cả người con gái ấy: “Em gọi tên tôi khắp mọi nơi / Gọi tôi vang động cả vòm trời / Tôi ngồi im lặng như lau sậy / Mờ mịt như màu sương khói thôi”. Niềm cô đơn trong thời trẻ tuổi chưa dấn thân, chưa tranh đấu chính là sự tìm quên thực tại chiến tranh? Niềm cô đơn này ở một nhà thơ từng có cả cuộc đời dấn thân, kháng chiến quyết liệt, bền gan nhất, phải chăng là một sự phản kháng lại thực tại hậu chiến?
Bài thơ viết về hư vô – linh hồn được nhiều người đọc, bình và nhớ là Địa chỉ buồn (27). Đạm Tiên trong Truyện Kiều như một ám ảnh về định mệnh bất hạnh của kiếp tài sắc. Ở bài thơ này, đường phố âm hồn của tài sắc mang tên bóng quế Đạm Tiên! Đó là nơi có vầng trăng soi chiếu giấc ngủ anh, và từ chốn vĩnh hằng, nàng tiên nào đó lặng nhìn. Đó là nơi có những giọt lệ nến trong thơ Lý Thương Ẩn cứ chảy hoài từ thuở sơ sinh như tiền định. Và, “những chiều Bến Ngự giăng mưa / chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi / tôi ra mở cửa đón người / chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang // nhà tôi ở phố Đạm Tiên / “dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu” / cây sầu đông, cây sầu đau / thương tôi, cây cũng nở màu hoa râm”. Đây phải chăng là trạng thái tâm lí nhập thân (đồng nhất nhân vật Thuý Kiều với chính mình) của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường – anh bị ám ảnh (như Thuý Kiều bị ám ảnh) về kiếp nghệ sĩ tài hoa mà “bạc mệnh cũng là lời chung”? Phải chăng tận chiều sâu của trạng thái này chính là niềm phản kháng, phê phán xã hội như rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định về Truyện Kiều?
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết rằng, luận văn cử nhân triết học của Hoàng Phủ Ngọc Tường là “Cái chết (La mort)” (28) và Nguyễn Trọng Tạo, Hồ Thế Hà cũng đã bình luận nhiều về chủ đề này trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi cảm nhận thêm một điều là ở thời tuổi trẻ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chấp nhận cái chết tích cực, chết vì sự sống như trong bài ca dao về cây sầu riêng, “một cây ngã xuống, vạn chồi mọc lên”; ở giai đoạn sau này, cái chết thường xuyên trở đi trở lại như ám ảnh không rời trong tâm thức một “gã tình si kêu gào vĩnh cửu” (29) Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà thơ từng tiếc nuối thời gian chóng qua (Dù năm dù tháng), phải chăng tận chiều sâu là một thái độ phản kháng thực tại?
Điều quan trọng nhất, đáng quan tâm nhất là quan niệm về tự do. Ở bài Người khát vọng bầu trời (30), anh viết hồi kỉ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, 1980, bấy giờ, quan niệm tự do của anh mới mạnh mẽ biết bao! Đó là tự do cho cả dân tộc và cho mỗi con người. Cho dù trước kẻ thù ngoại xâm nhà Minh hay trước bọn gian thần bạo chúa nhà Hậu Lê, Nguyễn Trãi vẫn bất khuất. Kín đáo trong bài thơ này là khát vọng tự do, dân chủ của Hoàng Phủ Ngọc Tường và của cả dân tộc trong thời chưa Đổi mới (1986), chưa Cởi trói (1987). Nhưng tư tưởng tự do, dân chủ, cơ chế đối trọng của anh không thấy thể hiện trong thơ, mà chỉ loé lên trong vài bài báo! Tự do, dân chủ và cả công bằng, bình đẳng nữa, trong Người đi hái phù dung, thực chất chỉ là tự do cá nhân trong sự chối từ xã hội kiểu tiêu dao du, tề vật luận của Trang Tử, thể hiện qua Nam Hoa kinh:

“… Con chim nào giấu mặt trong sương / Khi chiều xuống cùng tôi trò chuyện / Chim hỏi tôi: Người từ đâu đến? / Thưa chim rằng: Tôi từ cỏ sinh ra // Tôi trở về tìm trong hương cỏ / Dịu dàng một chút bình yên / Tự do nhiều khi là im lặng / Để đừng nghe ai gọi tên …” (31).

Thật dễ thương biết bao trong đối thoại kiểu tề vật luận với tinh thần bình đẳng giữa vạn vật, muôn loài, nhưng tự do không chỉ là rong chơi, ngao du sơn thuỷ hoặc “dưới cây kia tôi ngồi hát nghêu ngao” (31) kiểu tiêu dao du nữa, mà còn là ý thức tự giải phóng ra khỏi thân thế (vốn như một thứ trói buộc cho dù tập ấm hoặc nô lệ truyền kiếp) và im lặng (vô công, vô vi), và vô danh.
Phải chăng đó cũng là một cách phản kháng tiêu cực, quá tiêu cực, của một trí thức, trong thời tuổi trẻ, vốn đã đấu tranh không chùn bước trong cơ chế dân chủ tư sản Miền Nam trước Ngày Thống nhất (1975), cũng đã lên đường kháng chiến chống Mỹ, từng hiểu thấu đáo thế nào là tự do, dân chủ, đối lập, đối trọng lẫn các mệnh đề của chủ nghĩa Marx? Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường như thể đã đành quên “tự do của người này là điều kiện tự do của người khác”, “tự do là sự nhận thức được tất yếu” (“tất yếu” phải là tất yếu khách quan, xét theo quan điểm đồng đại, so sánh với các nước trên thế giới, không phải là thứ “tất yếu” bị áp đặt, xuyên tạc để bảo vệ nền chuyên chế độc tài, ở các nước nào đó!).
Trong tất cả các nhân quyền, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đòi mỗi một thứ tự do được bày tỏ thái độ, mà nói theo ngôn từ của anh là “quyền được buồn”. Thực chất quyền được buồn là quyền được bày tỏ công khai trên báo chí, bằng văn chương thái độ bất bình trước những gì chướng tai gai mắt, và cũng theo cách như thế, được quyền bày tỏ cả nhân sinh quan riêng của mình, sáng tạo riêng của mình… Tôi nghĩ, thực chất đó là quyền biểu đồng tình hay phê phán (và chấp nhận sự đồng tình hay phê phán phản hồi) một cách xây dựng, đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản… Thật ra, “quyền được buồn” cũng còn hạn chế lắm, nhưng thử tưởng tượng không một ai trong nước được quyền bày tỏ nỗi buồn bực, buồn chán của mình trước bao điều trái tai gai mắt xem! Thật khủng khiếp!
Và như đã nói, khi buồn (âm) quân bình với vui (dương), con người mới thật sự cân bằng tâm lí, để không đến nỗi bất bình thường, máy móc hoá!
Dẫu sao, tôi vẫn cảm nhận được những nét tiêu cực một cách tích cực của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Người hái phù dung.
Người hái phù dung là mảng thơ đẹp nhất của anh về ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu, màu sắc thơ, tuy có đôi chỗ (rất ít) có lẽ hơi sáo mòn như anh Nguyễn Trọng Tạo đã chỉ ra. Phải nói thêm, thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp trong trẻo và uyên áo. Nếu vừa thích vì đẹp, vừa trách sao thơ anh càng về sau càng buồn đến tuyệt vọng, thì chỉ có một cách là đọc thêm truyện kí của anh. Thang thuốc, như đối với mọi nhà văn, trước hết là cho mình, anh cũng đã tự kê đơn, có đủ cả thứ hàn, thứ nhiệt và thứ bình, trong sự tương tác lẫn nhau giữa các thứ như thế!

5

Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà thơ đồng thời là một nhà văn có tấm lòng quý mến đặc biệt đối với những người làm văn thơ trẻ tuổi hơn anh.
Cách đây gần 20 năm, bấy giờ tôi còn ở Quảng Trị, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và các anh trong Ban Biên tập Tạp chí Sông Hương, gồm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nhà thơ Võ Quê và nhà văn Nguyễn Khắc Phê, có một lần ghé đến nhà tôi để thăm hỏi. Đêm đó, tôi có viết một bài thơ rất mộc mạc để kính tặng:

Tấm lòng

bất ngờ trước những tứ thơ
những trang văn, vẫn có ngờ được đâu!
bàn tay tìm đến nỗi đau
trái tim nghe tận nguồn sâu mạch đời
tấm lòng rộng mở đến tôi
cái nhìn gắng trải khắp trời Nắng – Mưa
bao điều đã viết và chưa
cơ hồ thấm thía như vừa đọc xong
văn chương tự những tấm lòng
mãi trong veo ngan ngát dòng Sông Hương
các anh vào, nắng vườn dương
cứ bâng khuâng ở bên đường làng quê
tôi ngồi đến cạn đèn mê
ánh trăng vằng vặc lại về trong tôi.
TXA.
Quảng Trị, 1885

Bài lục bát Tấm lòng là một kỉ niệm đáng nhớ còn đọng lại trên giấy.
Về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi còn nghĩ, chính anh mới là một chiếc cầu nối tuyệt vời nhất giữa hai bờ Bến Hải về văn học nghệ thuật. Không ai hiểu văn nghệ sĩ Miền Nam – Miền Bắc trước và sau Ngày Thống nhất (1975) hơn anh. Rất tiếc, anh đã bị bệnh suốt mấy năm nay, đến mức chỉ ngồi trên xe lăn, nói năng rất khó. Tôi vui mừng xen lẫn với ngạc nhiên như thể được chứng kiến một sự kì diệu, là anh vẫn tư duy rất minh mẫn, viết lách rất tài hoa, và càng cảm thấy mừng khi những ngày gần đây anh chuyện trò rõ tiếng hơn. Tôi cũng hi vọng 02 cuốn tiểu thuyết tôi mới xuất bản trong năm ngoái, Ngôi trường tháng giêng và Sen đỏ, bài thơ hoà bình (**), đã được anh đọc. Không rõ tình trạng sức khoẻ như thế, anh có đọc tiểu thuyết hay không. Trong Ngôi trường tháng giêng, nhà văn Đan Sử (có nghĩa là sử đỏ, sử viết bằng máu) chính là nhân vật được hình tượng hoá từ nguyên mẫu rất thật là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trong những năm tháng anh bị bệnh tật đến mức ấy, chị Lâm Thị Mỹ Dạ đúng là một người vợ hiền, thuỷ chung, chịu thương chịu khó với sự nhẫn nại bền bỉ đến mức không một ai không kính phục.
Tôi vẫn cứ nghĩ rằng, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ còn viết hay và viết nhiều hơn nữa. Hi vọng “phần chìm” ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh Nguyễn Trọng Tạo có nói đến, sẽ được viết ra trên hàng ngàn trang giấy hay ít ra cũng sẽ được ghi âm lại. Và giá như có một thư kí bên cạnh chị Lâm Thị Mỹ Dạ để cùng chị giúp việc cho anh! Đó là cả một tài nguyên quý báu, mất đi sẽ không bao giờ có thể tìm lại được.

TP. HCM., khởi viết từ 08 giờ 10 phút, ngày 22. 10. HB4 (09. 9. G. thân HB4);
viết xong lúc 16 giờ 28 phút, ngày 24 . 10. HB4 (11. 9. G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN


(*) Trước đó, vào năm 1973, tôi đã được một tuần báo ở Sài Gòn, cụ thể là nhà văn Từ Kế Tường (Nguyễn Đan Trường), giới thiệu là một người thơ mới với bài Tiếng chuông xưa (Tuổi Ngọc, số 103, năm 1973).
(1) Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tuyển tập (TTHPNT.), (4 tập, Trần Thức tuyển chọn từ Những dấu chân qua thành phố, tập thơ, Nxb. Giải Phóng, 1976 và Người đi hái phù dung [1995], Nxb. Thuận Hoá tái bản, có bổ sung, 1997), tập 4, thơ, Nxb. Trẻ TP. HCM. & Công ti Văn hoá Phương Nam, 2002.
(2) TTHPNT., tập 4, bài bạt của Nguyễn Trọng Tạo: Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, một cõi tâm linh, sđd., tr. 187.
(3) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 5.
(4) Trần Tam Tỉnh (linh mục), Thập giá và lưỡi gươm (nguyên tác tiếng Pháp: Dieu et Çésar, Nxb. Sudest-Asie, Paris, 1978), linh mục Vương Đình Bích dịch, Nxb. Trẻ, 1988, tr. 133 – 158… Chế độ độc tài Ngô Đình Diệm (1955 – 1963) thực chất là con đẻ của Mỹ và chủ yếu là con đẻ của thế lực phản quốc Thiên Chúa giáo, kể từ thời Tự Đức (1847 – 1883), Hàm Nghi (1884 – 1885 – 1888) đến 1963, điều đó ai cũng rõ, nhân chứng lịch sử cho đến nay vẫn còn sống khá nhiều. Riêng cái gọi là chế độ đệ nhị cộng hoà do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu, vì Thiên Chúa giáo rút kinh nghiệm từ vụ Ngô Đình Diệm, và vì Nguyễn Văn Thiệu không lộ liễu chường ra nhãn hiệu thập giá, nên nhiều người còn ngộ nhận. Để tiện tham khảo và để dễ hồi ức lại bối cảnh lịch sử giai đoạn 1963 – 1975, xin trích một vài đoạn từ sđd.: “Cuộc binh biến đầu tiên do “Minh đại ca” [Dương Văn Minh – TXA. chua thêm (ct.)] chỉ huy đã bị lật nhào ngày 30 tháng giêng 1964 bởi một nhóm tướng trẻ do Nguyễn Khánh điều khiển. Khánh lại phải cuốn gói ngày 13 tháng 9 để nhường cho một “tên Thổ trẻ”, tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ. Như một phép lạ, ngày 27 tháng 10 năm 1964, xuất hiện một chính phủ dân sự của Phan Khắc Sửu [tín đồ đạo Cao Đài, làm quốc trưởng đến 1966 [?] – ct.], chẳng mấy bữa lại bị lật đổ, ngày 20 tháng chạp trong một cuộc “đảo chính bỏ túi”. Nguyễn Khánh lại lên ghế chủ tịch, bằng một cuộc trở về yên ổn ngày 28 tháng giêng 1965, để ba tuần sau đó lãnh án “lưu vong”, làm đại sứ lưu động, rồi sau đó làm chủ một quán ăn tại Paris. Vụ lật đổ thứ sáu đưa ông tướng hung hăng Nguyễn Cao Kỳ lên cầm đầu chính phủ. […] Có một nhân vật ngồi ung dung trong văn phòng mình tại Sứ quán Mỹ cứ giật dây, điều khiển các con rối và thay đổi chúng tuỳ thích, đó là Cabốt Lốt [Lodge – ct.]…” (sđd., tr. 143 – 144); “Chẳng bao lâu, y [Nguyễn Cao Kỳ – ct.] đã đành chịu đóng vai nhì bên cạnh một tướng cao mưu, xảo kế hơn, đó là Nguyễn Văn Thiệu. Tay này đã trở lại đạo Công giáo dưới chế độ Diệm. Một số người cho rằng y theo đạo Công giáo vì những động cơ chính trị, hơn là vì lí do tôn giáo [và vợ y là một tín đồ Thiên Chúa giáo – ct.]” (sđd., tr. 145); “Trong bối cảnh như thế, thái độ của Giáo hội [Thiên Chúa giáo – ct.] Việt Nam như thế nào? Sau một lúc bị gạt ra rìa bởi nhóm tướng tá đảo chính và Hoa Kỳ đang muốn chơi con bài Phật giáo, người Công giáo lại giành được thế mạnh chính trị vào năm 1965. Quả thế, trong vụ khủng hoảng Phật giáo và sau khi Diệm bị đổ, người Mỹ cứ ngỡ rằng có thể dựa vào Phật giáo để thực hiện mục tiêu của mình. Nhưng Giáo hội Phật giáo thống nhất, mặc dầu có nhiều xu hướng và ý đồ khác nhau, vẫn không tán thành chiến tranh và không chống lại việc thương thuyết với Cộng sản. Một điều chắc chắn, theo cây bút Xunbecgơ trong tờ Nữu Ước thời báo [Newyork Time – ct.] ngày 15. 3. 1965, tổ chức Phật giáo không đồng tình với kiểu cách của Oasinhtơn [Washington DC., thủ đô Mỹ – ct.], mà lại nghiêng về phía các ước nguyện của Việt cộng. Mất hứng trước thái độ của Phật giáo, Lầu Năm Góc quay lại luôn phía Công giáo và chơi cho hết ván bài này…” (sđd., tr. 149 – 150); “Năm 1967, […]. Tại Việt Nam, các binh sĩ Mỹ đã đặt lên ngôi tổng thống một người Công giáo (Nguyễn Văn Thiệu) và đưa vào thượng viện đa số nghị sĩ Công giáo (35 ghế trên 60)…” (sđd., tr. 155).
Xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đã sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).
(5) TTHPNT., tập 4, sđd., phần gấp bìa 1.
(6) Xem thêm: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Như con sông từ nguồn ra biển (truyện kí, 1971), trong Tuyển tập HPNT., tập 2, Nxb. Trẻ, 2002, tr. 9 – 38.
(7) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 32 – 33 & bài Đường phố ấy, sđd., tr. 21 – 23.
(8) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 14.
(9) TTHPNT., tập 4, bài Câu hỏi, sđd., tr. 18 – 20.
(10) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 15 – 17.
(11) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 11 – 13.
(12) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 64.
(13) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 65.
(14) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 79 – 82.
(15) TTHPNT., tập 4, bài Tôi viết tên Người, sđd., tr. 26 – 28.
(16) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 52 – 56. Nậy có nghĩa là lớn.
(**) Chẳng hạn về cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 (báo chí Miền Nam gọi là “biến cố Tết Mậu thân”), bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ của Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đúng và rất đúng với anh và đồng đội Giải phóng quân của anh cũng như với các gia đình cơ sở cách mạng ở Huế, kể cả ngoại thành. Trong hiện thực lịch sử, vào thời điểm đó, lính Mỹ đầy khắp Huế và cả Trị – Thiên, nên bộ phận thanh niên, sinh viên học sinh tiến bộ, nhất là thân cách mạng, rất căm phẫn. Chính tôi, thuở bé, đã chứng kiến được không khí căm phẫn ấy. Nhưng đó là một biến cố đau thương, tang tóc đối với một phân số khá lớn nhân dân Huế vốn là những người dân tộc chủ nghĩa (trung lập, bị kẹt giữa hai gọng kìm “tả đạo” và cộng sản), rất sợ hãi chủ nghĩa vô thần, đấu tranh giai cấp, nhất là những ai họ xem là “thân” Liên Xô, Trung Quốc (họ cho rằng Liên Xô, Trung Quốc cũng như Pháp, Nhật, Mỹ). Cho nên, không khí Huế sau Tết Mậu thân, cùng với chiến dịch tuyên truyền tâm lí chiến của Mỹ ngụy (về Khe Đá Mài với hàng trăm tử thi bị thủ tiêu…) là khá hãi hùng. Chính tôi, thuở bé, cũng đã chứng kiến được không khí tang tóc ấy.
Nhân chứng lịch sử cho cả hai phía ngụy và cách mạng, cũng như phía bộ phận nhân dân, ngụy quyền, ngụy quân lớp dưới (bất đắc dĩ phải làm công chức hoặc đi lính cho ngụy) hiện nay còn sống không phải là ít.
Cho nên, câu ngạn ngữ Phương Tây “bên này dãy Pyrénnées là chân lí, bên kia là sai lầm”, cũng có thể vận dụng ở trường hợp Tết Mậu thân Huế 1968 này chăng? Ở đây, tôi chỉ nói về quan hệ giữa thi ca và sử học cũng như đặc trưng của mỗi loại. Xin khẳng định lại một lần nữa để khỏi bị ngộ nhận: Tôi không có ý cho rằng bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ phản ánh sai sự thật lịch sử đối với nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng đội Giải phóng quân của anh cũng như đối với bộ phận gia đình cơ sở cách mạng ở Huế và ngoại thành Huế. Nhưng đó không phải là sự thật lịch sử toàn cảnh Huế vào Tết Mậu thân 1968.
(17) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 132 – 134.
(18) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 137 – 138.
(19) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 135 – 136.
(20) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 121 – 122.
(21) TTHPNT., tập 4, bài Đêm qua, sđd., tr. 106 – 108.
(22) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 83 – 84.
(23) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 87 – 88.
(24) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 157 – 158.
(25) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 126.
(26) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 161 – 162.
(27) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 104 – 105.
(28) TTHPNT., tập 4, hai bài đã dẫn, sđd., tr. 190 & tr. 200 – 201.
(29) TTHPNT., tập 4, bài Tình sử Hy Lạp, sđd., tr. 91 – 93.
(30) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 95 – 96.
(31) TTHPNT., tập 4, bài Tôi biết nơi kia có một chỗ ngồi, sđd., tr. 109 – 110.
(**) Trần Xuân An, Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết) & Sen đỏ, bài thơ hoà bình (tiểu thuyết), xuất bản cùng một lượt, Nxb. Thanh Niên, 2003.
(*) Trần Xuân An, Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết), Nxb. Thanh Niên, 2003.

(+++) Phụ chú (ngày 9-7-2005): Xin chú thích thêm: 4 câu thơ về lá cờ Mặt trận Giải phóng và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Đó là lá cờ chính thức và chủ yếu ở Miền Nam, trước ngày Hiệp thương Thống nhất (1976). Đoạn thơ ấy trích trong trường ca “Nước non ngàn dặm” của Tố Hữu: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ của đất, màu xanh của trời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay”. Phải chăng đó là lá cờ ngược (sách lược tạm thời)? hay do vô thức chi phối khi Tố Hữu cấu tứ? Có nên truy kích nhau trong phê bình văn học? Tôi (Trần Xuân An), trong những năm về sau, đã mạn phép chữa nghịch lý lại cho hợp lý hơn: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ hừng sáng [trời rạng?], màu xanh biển ngời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của tim người hôm nay”. Tất nhiên, bấy giờ cũng như bây giờ, tôi không dám sửa thơ của người khác (nếu không phải bạn bè, thân quen và có trao đổi chân tình) như vậy, nhất là thơ của Tố Hữu (đã vào văn học sử khi ông còn sống). Ý tưởng này với những hình ảnh ấy, tôi đã thể hiện trong một bài thơ của mình vào năm 1976.
TXA.

Đã gửi: (25. 10. HB4):
Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường
& chị Lâm Thị Mỹ Dạ (để được góp ý trước khi gửi đăng báo);
& (01. 12. HB4):
Hoàng Dạ Thư (NXB. Trẻ, để chuyển giúp… ).




________________________

Bài thứ chín

ĐỌC THƠ HÀ LINH CHI

Kính gửi đến gia đình
cố thi sĩ Hà Linh Chi
với niềm tưởng tiếc khôn nguôi về anh.

TXA.

1

Cuối cuộc họp rút kinh nghiệm về số đầu tiên tập san Văn nghệ Bình Trị Thiên, tôi mới biết người đàn ông đã ngoài ba mươi tuổi, có nước da ngăm ngăm nâu và khá vạm vỡ, vừa phát biểu kia, là nhà thơ Hà Linh Chi. Anh nói, xin anh em gửi bài về Đài Phát thanh tại Huế, nhưng nhớ đừng gửi những bài “lên gân”, bởi người biên tập là anh, vốn không thích “lên gân”. Anh dùng hai chữ đó với ý mỉa mai sự hô hào suông như “khẩu hiệu” trong thơ. Đó là ý kiến sau khi có người đã phê phán sự “bít bùng” trong nghệ thuật. Tôi suýt nữa phải bật cười, bởi sau Ngày Thống nhất (1975), như nhiều người đã viết, ở thời điểm đó, những người chiến thắng cùng với tuổi trẻ chưa thật sự vướng vào cuộc chiến tranh, rất lãng mạn, loại lãng mạn “hướng ngoại”, thường vẽ vời trong ước mơ những gì rất to tát, viển vông về xã hội, về Đất nước, quê hương, nên rất dễ duy ý chí. Anh Hà Linh Chi vốn là một người khá “ngang xương” như thế.
Đó là năm 1976, lần đầu tiên tôi gặp anh. Hình như sau đó không lâu, nhà thơ Hà Linh Chi cũng vào Lâm Đồng tiếp tục công tác ở Đài Phát thanh tại Đà Lạt.
Tháng 09. 1978, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, tôi được bổ nhiệm vào Ty Giáo dục Lâm Đồng. Tôi vẫn chưa gặp lại anh Hà Linh Chi. Năm học đầu tiên, tôi về giảng dạy tại Lộc Ngãi, huyện trà Bảo Lộc (*). Cũng chưa có dịp nào gặp lại nhau! Năm học sau đó, tôi về Trường Phổ thông cấp III Bảo Lộc, nhưng lại dạy tại phân hiệu Đa Huoai của trường, tít tận Chiến khu D cũ. Vẫn chưa gặp lại! Đến hai niên khoá ở hai vùng khai hoang lập ấp, thường được gọi là vùng “kinh tế mới”, tôi mới được lên giảng dạy tại Trường Phổ thông trung học (cấp III) Đức Trọng, nơi có sân bay Liên Khương và thác Prenn, thác Gougar nổi tiếng.
Năm 1980, chúng tôi mới gặp nhau lần thứ hai, sau lần đầu ở Huế vào năm 1976.
Lần gặp lại, anh bảo, mấy năm qua anh bị các vị lãnh đạo “hành hạ”, “lên dây cót” đủ việc, từ thu mua lương thực cho đến những việc không phải là thơ ca, báo chí, phát thanh gì ráo. Tôi không ngạc nhiên, vì biết nét cá tính khá ngang tàng một cách nghệ sĩ của anh, thế nào cũng bị lận đận bởi các vị cấp trên vốn ưa chuộng khuôn phép.
Từ đó, anh Hà Linh Chi với tôi rất thân tình, như thể bạn bè, đến mức thỉnh thoảng vẫn có thể cùng nhau rượu chè, cười cợt, châm biếm hơi suồng sã một cách đau xót về đủ thứ chuyện tiêu cực trên đời, hoặc khoái chí đến mức có thể cười ha hả hay xuýt xoa thích thú về những gì tốt đẹp ngoài xã hội, mặc dù anh lớn hơn tôi đến 16 tuổi.
“Trong cuộc sống thường ngày, Hà Linh Chi là người sôi nổi, nồng nhiệt với bạn bè, không hề che giấu bản chất con người mình. Phía sau những ứng xử có lúc như ào ạt là một một trái tim thơ nhân hậu, một trí tuệ sắc sảo, một cá tính độc đáo khắc sâu vào tâm trí những người đã có dịp gần anh” (1). Đó là một nhận định rất đúng về nhà thơ Hà Linh Chi.
Nhưng tiếc thay, hơn 10 năm rồi, kể từ ngày 21. 06. 1994 ấy, anh không còn nữa trên cõi đời này, ở tuổi 54 còn đầy sức sáng tạo! Ngày anh về với thế giới hư vô, với lòng Đất Mẹ tại Đà Lạt, tôi đang ở thành phố Hồ Chí Minh. Nhận được điện tín báo tang do anh Trần Ngọc Trác gửi về, lúc nấm mộ anh đã đắp lại rồi, tôi chỉ biết thắp một nén nhang hướng mặt lên thành phố hoa quỳ vàng ấy.
Liệu tôi có thể viết gì về thơ của một người đã thành thiên cổ!

2

Hình dung ra cuộc đời nhà thơ Hà Linh Chi, có lẽ phải khởi đầu từ một bài thơ hồi tưởng của chính anh. Có những khoảnh khắc, những buổi, những ngày mãi còn đọng lại trong trí nhớ thời tấm bé, do được tận mắt chứng kiến hoặc được kể lại một cách tình cờ bởi người lớn, mãi về sau, trở thành một dấu ấn màu son không phai mờ trong tâm khảm. Hẳn những ai sáng suốt đều nghĩ rằng tâm thức con người không bao giờ là một tấm bản sao vô tri được chụp lại từ thế hệ trước cùng huyết thống. Tuy nhiên, với sự suy tư, chiêm nghiệm và có thể cả khảo nghiệm của mình về lịch sử, Hà Linh Chi đã có một Buổi sáng ấy (2), không thể nào quên:

“Con chỉ nhớ khi con vừa năm tuổi / Ngày tháng trôi qua trong sóng biển, còi tàu / Đường phố chợ có bao giờ bước tới / Cha đốt củi trên rừng, mẹ ra hói tìm rau // […] Mặt trời lên rồi bốn bề trống thúc / Trong Lăng Cô ra, ngoài Đá Bạc vào / Bên Tư Hiền cũng thuyền giăng mỏ giục / Rừng cờ, rừng người cuồn cuộn vàng sao! // […] Con đâu hay đó là Ngày Độc lập / Tháng Tám mùa thu cờ đỏ sao vàng / “Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước…” / Cha bước trong đoàn người cùng hoà nhịp ca vang // Bốn mươi lăm năm một đời con theo bước …” (**).

Bài thơ được anh viết vào năm anh đã 50 tuổi, vào một ngày gần cuối tháng tám, 1990. Đó là năm ở Đông Âu, một loạt nước xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ, sự biến Thiên An môn ở Bắc Kinh cũng đã diễn ra, và ở Liên Xô, một không khí rối loạn đã bắt đầu dữ dội hơn. Nhưng Hà Linh Chi vẫn muốn giữ trọn vẹn, không hề có chút dao động, như ai đó đã toan lau chùi đi dấu ấn màu son Cách mạng Tháng Tám và cả quãng đời, như anh đã thưa với hương hồn cha mình, “bốn mươi lăm năm một đời con theo bước” với Tiến quân ca.
Sau 09 năm kháng chiến chống Pháp, dưới ngọn cờ Tháng Mười tại Nga (1917) và ngọn cờ Tháng Tám Việt Nam (1945), ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, có một người chiến sĩ cách mạng đã dẫn con trai ra Miền Bắc, sau hiệp định Genève (20. 07. 1954). Hà Linh Chi chính là đứa con trai ấy, mới bước vào tuổi 14 được gần 03 tháng (3). Không phải ngẫu nhiên mà về sau, trong tập thơ của mình, theo nếp tư duy thuở bấy giờ (dẫu trong số bạn anh lắm người chê trách là di căn nhược tiểu (***)), vẫn có vài ba lần anh nhắc đến hai chữ Tháng Mười viết hoa:

“Rực rỡ đoá quỳ vàng / Đưa cao nguyên vào nắng / Nghiêng nghiêng vầng nón trắng / Óng vàng mái tóc Nga […] / Cùng vun gốc tỉa cành / Cho Tháng Mười bông trổ / Màu ba dan thắm đỏ / Trên tay cô gái Nga …” (4).
(Đà Lạt, 10. 1983)

Từ năm 14 tuổi, Hà Linh Chi ra Miền Bắc học tập phổ thông, rồi đại học. Sau đó, giảng dạy tại một trường cấp III ở Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Giã từ ngành giáo dục, dự một khoá bồi dưỡng viết văn, năm anh 31 tuổi (1971), Hà Linh Chi cùng đồng đội vượt ngang sông vĩ tuyến mười bảy, có tên Hiền Lương (Bến Hải), để vào chiến trường Miền Nam, vừa cầm bút, vừa cầm súng:

“Cầu bảy nhịp còn hai /bom từ trường đợi nổ / dòng sông mùa mưa lũ / bến bờ không bóng thuyền // Bên kia làng Trung Giang /cỏ lau vàng hoang dã / dây kẽm gai hầm hố / bìm bịp kêu lạnh đồng //Đồn Đốc Miếu chông chênh / đỏ bầm từng ụ đất / dáng người đi cúi mặt / dưới tầm súng ca nông … […] / nước bồi hồi dưới ngực / tôi bơi qua dòng sông” (5).
(Hiền Lương, 1971)

Hai năm liền, Hà Linh Chi chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị. Bút pháp thơ của anh hình như đã định hình, rõ nét, là thiên về kí sự. Hình như anh rất chú ý việc miêu tả, và qua đó, thi thoảng mới bày tỏ cảm xúc, suy tư của cái tôi trữ tình một cách trực tiếp. Bài thơ Gió từ La Vang (6) được anh khắc từng nét bút mạnh và sắc:

“Trời La Vang gió giật từng cơn / Cát quất như roi / Lá mài như kiếm / Tre xát vào nhau ớn lạnh / Lào rào kẽm sắt / Lảng rảng mái nhôm / Gió từ La Vang tràn sang Cửa Việt / Mùa hanh heo gợi nhớ đồng bằng // […] Cát bỏng hầm sâu / Lửa xém đồng bằng / Máu chảy xuống, gió lùa khô tím ngắt / Gió miết đồi tranh lá sắc / Cỏ còn giữ nước mà cỏ thành chông / Gió khô cong sắc mặt cháy đồng hun / Rít ầm ù hoang khô vùng hậu địch …”.
(Quảng Trị, 1972)

Bài thơ Màu đỏ đất Cùa (7) cũng theo một bút pháp thơ kí sự như thế, có đoạn anh “chép” nguyên lời nhân vật vào thơ, như một nhà-báo-thơ tại mặt trận, có chỗ lại miêu tả một cách khá ấn tượng về sự khốc liệt, dữ dội, tàn bạo của chiến tranh, bất chấp cấm kị “tự nhiên chủ nghĩa” (thường khiến người đọc yếu vía mất hồn):

“Hãy nhìn tận mắt anh ơi! / Vườn xưa tuổi nhỏ / Bây giờ lau lách cỏ tranh / Bom toạ độ nổ thành miệng phễu / Vườn mẹ / Mênh mông chói đỏ ngút ngàn… // Lòng chảo Cùa như miệng cối xay / Nghiến nát màu xanh thành máu đỏ / Mỗi hạt tiêu cũng hoá thành hạt lửa […] // … Màu đỏ đất Cùa – màu lửa trái tim”.
(Cùa, tháng 8. 1972)

Đến tháng 08. 1973, nhà thơ Hà Linh Chi mới về lại quê hương Thừa Thiên của anh. Anh đã biểu hiện thay vì tự biểu hiện, thông qua nhân vật cái tôi trữ tình là một người đã kinh qua gần suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ:

“Về Thừa Thiên, ta về Thừa Thiên / Đất mẹ quê cha một đời cay cực / Núi Truồi ơi, hai mươi năm đánh giặc / Ta bạc tóc này cho núi mãi xanh tươi”.

Thiên về miêu tả “hướng ngoại”, ít khi xoáy cái nhìn vào chiều sâu nội tâm mình, Hà Linh Chi vẫn có cách miêu tả rất đỗi cảm thông về cái nghèo Trung bộ, nghèo vì sông suối nhiều, nhưng độ dốc cao và trong văn vắt, ít phù sa, lại chịu đựng chiến tranh hơn bất kì quê xứ nào:

“Bao giờ em đến miền Trung / đừng mặc áo hoa mà buồn con nước / nếu tuổi thơ em qua nhiều mất mát / em lại gặp mình trên mặt dòng sông” (8).

Cuộc chiến tranh kết thúc để sáng bừng lên một Ngày Thống nhất (1975). Hà Linh Chi viết về Dòng sông sau cơn lũ (9), có nhiều đoạn với thủ pháp xới lật; bắt đầu là mặt quá khứ, “phù sa từ hố bom / trôi qua vườn nhà mẹ / màu tím ngắt trong vườn / theo dòng sông ra bể […] // phù sa thấm vào rễ / quả hừng lên nỗi đau”; để rồi ở một đoạn khác, anh lật lại để nhìn rõ mặt hi vọng về tương lai, “phù sa từ hố bom / sẽ vươn xanh mầm lá / phù sa từ vườn mẹ / nở nụ hồng môi em […] // phù sa chìm trong rễ / cho hồng lên nụ cười”. Hình như khi viết về mặt nỗi đau, thơ Hà Linh Chi có nét mới mẻ hơn. Viết về mặt hi vọng, thơ anh lại rơi vào khuôn sáo! Phải chăng đó cũng bởi nguyên nhân chung của một thời? Rất nhiều, quá nhiều dòng thơ viết về hi vọng đến mức không còn gì là mới mẻ nữa ở địa hạt này, trong khi khổ đau vẫn còn nhiều “đất hoang” chưa khai phá. Tuy vậy, không phải Hà Linh Chi không có những câu sinh động: “em là ngọn nến hồng / soi đêm dài bão tố / trong veo, sau mùa lũ / em là dòng sông Hương”.
Thế là một quãng đời thơ khác đã mở ra, không còn súng đạn và máu xương, mà chỉ là màu xanh cây lá, sông nước và những mùa vàng ruộng rẫy.

3

Nếu trong tập thơ tuyển Lời đá của Hà Linh Chi, chỉ có vỏn vẹn 08 bài trước Ngày Thống nhất, thì thời gian suốt 19 năm hoà bình sau đó, có đến 47 bài được chọn.
Thi pháp thơ thiên về kí sự, miêu tả ngoại vật và ngoại cảnh như thể Hà Linh Chi là một nhà-báo-thơ, không chỉ là thi pháp của anh trong chiến tranh. Hoà bình, từ 1975, vẫn một thi pháp ấy, anh đi suốt 19 năm, cho đến ngày anh mất, 21. 06. 1994.
Nhà thơ Hà Linh Chi khác với những nhà thơ “hướng nội”, chỉ chú tâm biểu hiện những cảm xúc, tư tưởng nội tâm. Thơ “hướng nội”, tất nhiên hình ảnh thơ cũng mượn ở ngoại giới, nhưng là hình ảnh ngoại giới bất kì. Nhà thơ “hướng nội” sống, mở mắt thật to và mở hết mọi giác quan khác của mình để thu nhận hiện thực xã hội, thiên nhiên bên ngoài, và lại lắng nghe âm vang của hiện thực dội vào lòng, rồi cứ tích chứa mãi trong lòng, cho đến khi nội tâm xuất hiện một tâm trạng, một cảm xúc – tư tưởng, bấy giờ mới viết thành thơ bằng những hình ảnh ấn tượng sẵn chứa trong tâm thức. Thơ “hướng nội” không miêu tả ngoại giới mà chủ yếu là nhà thơ tự biểu hiện nội tâm. Nói chung, thi pháp “hướng nội” ấy hoàn toàn khác với thi pháp của những nhà thơ “hướng ngoại” như Hà Linh Chi.
Cũng như các nhà thơ “hướng ngoại” khác, Hà Linh Chi trải rộng tâm hồn mình trên những vùng đất mình sống hay có dịp đi đến. Vùng đất Nam Tây Nguyên có tên sau Ngày Thống nhất (1975) là Lâm Đồng (gồm Lâm Đồng cũ và Tuyên Đức cũ), cùng tỉnh lị của riêng nó là thành phố Đà Lạt, chính là nơi trái tim thơ của nhà thơ Hà Linh Chi ôm trọn theo nhịp đập trong lồng ngực anh. Hầu như nhà báo Hà Linh Chi đã đi hết mọi nẻo đường, từ đường nhựa phố phường, liên huyện, liên xã đến đường đất, đường mòn của các làng thôn, buôn bản trong tỉnh. Đến mỗi nơi, anh ghi nhận và đồng thời cảm xúc, do đó, hầu hết mọi nơi trong tỉnh đều có thơ Hà Linh Chi viết về. Thơ anh như một loại bút kí thơ hay kí sự thơ. Như đã viết, tôi thấy yếu tố miêu tả con người, nhất là khung cảnh, sự vật ở các huyện, xã thuộc tỉnh Lâm Đồng, trong thơ anh, chiếm một tỉ lệ khá lớn.
Tuy vậy, ở các nhà thơ, thật sự không có một sự phân biệt rạch ròi “hướng ngoại” với “hướng nội”. Xếp nhà thơ này hoặc nhà thơ kia vào khuynh hướng nào, chỉ là sự tương đối, căn cứ vào thi pháp chủ yếu mà nhà thơ ấy thường xuyên vận dụng. Ở Hà Linh Chi, anh là nhà thơ chủ yếu nghiêng rõ về phía “hướng ngoại”, nhưng với những đề tài như hoài niệm quá khứ chẳng hạn, anh không thể không tự biểu hiện nội tâm của mình theo khuynh hướng “hướng nội”.
Màu hoa tuổi trẻ (10) và hơn 10 bài thơ khác của anh về đề tài hoài niệm là mảng thơ “hướng nội” của anh.

“không biết mùi hoa hay hương tóc em / thơm rất lâu trên áo tôi hồi đó / ta chia tay chiến tranh và tuổi trẻ / hương hoàng lan đôi lúc thoảng về” (10).
Hành hương (11) là một bài rất cảm động trong thơ hoài niệm của anh:
“… Hành hương về cứ cũ / Cây cỏ phủ lối mòn / Anh gục đầu gợi nhớ / Vật kỉ niệm mình chôn // […] Mạch đất ấm bàn tay / Bớt đi chiều gió lạnh / Bất chợt từng cơn gió / Bất chợt từng tiếng ai…”.

Thực ra, chiến trường Trị – Thiên mới là nơi anh cầm súng chiến đấu, chứ không phải Nam Tây Nguyên, cụ thể là các làng ngoại thành Đà Lạt. Nhưng Hà Linh Chi, với sứ mệnh nhà thơ, thơ anh có khi chỉ là lời nói thay cho những ai luôn hoài niệm, thương tiếc đồng đội nhưng không hề làm thơ, tuy rất cần nhà thơ nói hộ những cảm xúc, suy tưởng giùm họ. Hoặc những người lính xuất ngũ, nay đang đi khai hoang lập ấp, họ cũng rất cần được nhà thơ nói thay tâm sự của họ, chẳng hạn như bài Tâm sự mgười đội trưởng (12). Hà Linh Chi có nhiều bài “hướng nội” theo kiểu nói thay như thế. Nếu dùng thuật ngữ, thì đó là biểu hiện (nói thay, nói về đối tượng) bằng thủ pháp tự biểu hiện (nhập thân vào đối tượng để nói giúp – cái tôi trữ tình của tác giả thực ra là cái tôi của đối tượng). Ở trường hợp này, ấy là “hướng nội” nhưng thực chất là “hướng ngoại”.
Đề tài nhân tộc thiểu số, cụ thể là các sắc dân bản địa lâu đời như K’Hor, Chiau Mạa, Chil, ở Hà Linh Chi, trở thành một mối quan tâm thường xuyên của trái tim anh. Bài Giai điệu của đá viết về loại đàn đá nổi tiếng của Tây Nguyên là một thành công của anh:

“bao cuộc đời trên mạch đá rêu phong / bao ngọn lửa tàn vào hoang lạnh / bao chiếc lá chìm trong suối vắng / sớm nay về trong tiếng đá vang ngân // sớm nay về trên nét mặt của em / địu con sau lưng cầm chày trước ngực / gõ lên đá điệu tâm hồn cháy rực / cho rung vang toàn vẹn những tấm lòng // đá hát thành lời cho trời cao hơn / sợi dây rừng rung rinh chìm nổi / âm thanh cao cho tóc em xanh mãi / âm thanh trầm từ mắt mẹ thẳm sâu // những năm động rừng đá chẳng mòn đâu / đói muối dời buôn theo người bền bỉ / những giai điệu âm thầm chung thuỷ / lại rung lên cùng đất nước hồi sinh // em hãy nhập vào xa thẳm thời gian / từ tiếng gõ rất êm trên mặt đá / nghe lịch sử nghìn năm về rạng rỡ / bên ché rượu cần và ngọn lửa tình yêu” (13).

Ở giờ phút thưởng ngoạn ấy, dĩ nhiên Hà Linh Chi không nghe hoặc đọc lịch sử qua những bài trường ca sử thi hoặc những truyền thuyết, anh cảm nhận qua tiếng đàn đá được gõ bằng chày, qua cả những rung cảm của người đàn bà trẻ địu con vốn là nghệ sĩ dân gian ấy. Lịch sử nghìn năm Nam Tây Nguyên thật sự là một thứ sử vô ngôn vô tự và sinh động. Lịch sử ấy chỉ hiển hiện ở những con người đang sống. Mỗi người là một trầm tích đồng thời là một tiếp nối. Âm nhạc của họ là một biểu hiện của lịch sử ấy. Và lịch sử ấy từ nghìn năm vọng về nhưng cũng toả ra cho đất và trời hiện tại, cho mái tóc xanh trẻ tuổi và ánh mắt sâu người già. Hà Linh Chi miêu tả sức bền của đá, thực ra qua năm, bảy thanh đá kia, Hà Linh Chi thể hiện lòng người thuỷ chung và nghị lực chân cứng đá mềm của người K’Hor, Chiau Mạa, Chil bao đời lên rừng xuống rẫy. Ché rượu cần và ngọn lửa đêm miền núi sương lạnh vẫn là hình ảnh kết đọng của lịch sử Nam Tây Nguyên. Rượu cần nồng ấm và ngọn lửa tình yêu, đâu chỉ là yêu đương đôi lứa, mà chính là tình yêu sâu thẳm thời gian, bát ngát không gian Nam Tây Nguyên!
Dẫu là người Kinh đặc sệt giọng nói Thừa Thiên, không pha lẫn chất Bắc hay chất Nam, Hà Linh Chi vẫn thể hiện được chính mình như là một người đồng bào thượng du Nam Trung bộ – Nam Tây Nguyên, với tất cả chiều sâu của trái tim mình. Hai đại từ “em” và “mẹ” của anh rất đỗi ruột rà!
Miêu tả, một đặc điểm của thi pháp “hướng ngoại”, được nhà thơ Hà Linh Chi vận dụng thành công một cách nhuần nhị trong bài Giai điệu của đá này. Cái tôi trữ tình của tác giả chỉ thấp thoáng ở bình diện phụ, rất mờ nhạt, đúng như ý định nhà thơ là cố giấu mình đi, hay đúng hơn là người đọc biết có nhà thơ đang miêu tả, cảm xúc, suy nghĩ “hướng ngoại”, nhưng hầu như chẳng thấy nội tâm riêng tư của nhà thơ ở câu thơ nào; cho đến đoạn kết của bài thơ, mới thấy lời nhắc nhở đầy thương mến của tác giả. Trong khi đó, ở bình diện chính, hình tượng xuyên suốt, bao trùm, toả sáng khắp bài thơ vẫn là người đàn bà trẻ – nghệ sĩ dân gian sắc tộc ấy và chính nội tâm của cô mà nhà thơ cảm nhận được.
Anh còn có một bài viết về một ngôi trường ở một buôn làng nhân tộc ít người. Đây là bài thơ anh gửi tặng tôi (TXA.), khi tôi đã rời bỏ khỏi Trường Phổ thông trung học Đức Trọng. Anh viết về một nơi (trường Ka Đơm) nhưng lòng hướng về một nơi (trường Đức Trọng). Có thể đây là một hình thức không phải hiếm thấy ở các nhà thơ, như thể Nguyễn Gia Thiều mượn chuyện các cung nữ trong cung cấm để oán trách vua chúa không biết đến bốn chữ “chiêu hiền đãi sĩ” (Cung oán ngâm khúc). Tất nhiên “so sánh” nào cũng khập khiễng. Nhưng dẫu vậy, ở nghĩa nổi (hiện nghĩa), bài thơ vẫn là một thành công khác của anh về đề tài các nhân tộc miền núi:

Nơi mùa xuân em qua (14)

(Gửi TXA.)

“mùa xuân này em có về Ka Đơm / con đường dốc đầy cỏ gai giăng mắc / sương trắng lạnh sau giờ tan lớp / hoa trinh nữ hồng ngọn nắng đầu tiên // em đi rồi con đường dài hơn / cu rúc kêu buổi chiều khắc khoải / nước củ mì mắt bạn bè nheo lại / tìm dáng em bên bếp lửa nồng nàn // pạp (@) nhớ em ngồi chẻ lạt đan sàng / kể chuyện em dạy trẻ thơ đọc chữ / tóc lộng gió và nụ cười rộng mở / trời mưa to vẫn ra lớp ra trường // nơi quãng đường tôi đã gặp em / bên chiếc cầu em vô tình rơi bút / dòng sông ấy vẫn dịu hiền trong suốt / mực từ bút em xanh mãi theo dòng… // Ka Đơm bây giờ con đường cao hơn / bãi sình lầy đã xanh um lúa nước / những ngôi nhà đỏ tươi mái lợp / hoa cà phê thơm suốt những lô vườn // bên ché rượu cần vít cong hơi men / hương mùa gặt quyện tròn chiêng sáo / những cô gái cởi trần sàng gạo / đôi vú căng tròn lắt lay // tiếng trẻ học bài xanh mướt hàng cây / hoa quỳ vàng xốn xang đồi núi / như ngọn lửa, dòng sông em nhắn gửi / nhớ thương hoài trong sắc gió Ka Đơm”.
(Đà Lạt, 19. 11. 1983)

Viết về những vùng đất khai hoang lập ấp (vùng “kinh tế mới”) là đề tài thứ ba Hà Linh Chi quan tâm. Là một nhà thơ có quê gốc là Thừa Thiên – Huế, Hà Linh Chi viết về Huế bằng những câu thơ rất Huế. Có cả mươi bài rất Huế ở Lâm Đồng như thế. Đúng như anh Nguyễn Cửu Sử, một trong vài vị lãnh đạo của khu kinh tế mới Hương Lâm (sông Hương và Lâm Đồng) hồi ấy thường nói với bà con cô bác ở đó: “Đem Huế vào theo, chứ không phải bỏ Huế mà đi”.

“sau những ngày mở đất /ngọt ngào mùa sinh sôi / từ cao nguyên tít tắp / đã nghe Huế chào mời // […] chẳng có chi mua bán / cũng ưa đi chợ hoài / để nghe Huế nói cười / từ cao nguyên đầm ấm” (15).
“Sương xuống nhiều nên chưa rõ mặt em / Sông chảy giữa hai bờ rừng lặng lẽ / Nghe giọng hò biết em còn trẻ / Điệu mái nhì nghe hát ở cao nguyên // Anh ra bờ để nghe rõ giọng em hơn / Tiếng quê hương nơi miền đất lạ / Nón nghiêng nghiêng và lời ca thoảng gió / Tưởng như mình đắm giữa sông Hương …” (16).

Nhà thơ Hà Linh Chi luôn hướng cảm xúc – suy tưởng của mình ra với cuộc sống như thế. Nhưng cuộc đời luôn tồn tại những niềm vui, ít ra cũng là niềm vui trong dự cảm, hi vọng, giữa thời đoạn cực kì khó khăn gian khổ của đất nước, đồng thời ở bên cạnh hoặc ở phía mặt kia của niềm vui, dự cảm lạc quan là những đau đớn, những bức xúc, vì những khó khăn đó một phần là do chủ quan của những người lãnh đạo cấp này, cấp kia. Với trái tim nhà thơ, trước bối cảnh như vậy, Hà Linh Chi không thể vô tâm, vô tư và anh không thể không có một mảng thơ thứ tư, ấy là thơ thế sự.
Nỗi mong của người lượm củi (17) hồi mới được Hà Linh Chi viết ra ở dạng bản nháp, đã khiến những vị lãnh đạo và những viên “cớm” rất bực bội. Do đó, bài thơ không được anh trau chuốt lại! Tuy hơi thô sơ, nhưng chính vẻ thô sơ như chất dân dã đó cùng ý tưởng táo bạo của nó, hồi 1982, chưa được cởi trói (****), lại lan truyền khá nhanh bằng cách “xuất bản miệng” hoặc chuyền tay bản chép.

“… đã từng xanh tốt một thời / đã từng toả mát cho đời bóng râm / yếu mềm gãy trước bão giông / chẳng rơi xuống đất còn mong nỗi gì / đã khô dòng nhựa đi về / nặng thân cây lại còn đè chồi non / đã không hoa lá bóng tròn / vui làm nhánh củi về đun cho rồi // ước chi trận gió nổi dài / cành khô rơi xuống được nồi cơm sôi”.
(Đà Lạt, 25. 02. 1982)

Đó là phản ứng của một nhà thơ có trách nhiệm trước hiện thực xã hội với những khó khăn thật, do nguyên nhân khách quan (tình trạng hậu chiến, lại bị cấm vận), và những khó khăn giả, do nguyên nhân ở phía chủ quan, ấy là óc thủ cựu và tham quyền cố vị của các vị lãnh đạo, mặc dù trong qua khứ họ cũng rất có công lao. Sự kiện bài thơ này ở Lâm Đồng cũng như sự kiện Phạm Thị Xuân Khải ở báo Tiền Phong sau đó vài ba năm. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rõ, Hà Linh Chi hoàn toàn xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của chính anh, để viết bài thơ đó.
Người thợ mộc và vân gỗ cẩm lai (18) là một bài thể hiện một cách hình tượng quan điểm dùng người rất cổ điển, theo kinh nghiệm nhiều đời truyền lại (dụng nhân như dụng mộc) và theo cái tâm trong sáng, vì trách nhiệm chung, vì số phận của mỗi con người, mỗi trí thức cụ thể. Nhà thơ Hà Linh Chi viết:

“Ba đời làm thợ mộc / Tôi thuộc lòng từng thớ gỗ trên tay / Thẳng làm thước, cong làm giằng xay / Súc gỗ quý có thể nào bỏ được? //Anh hãy nhìn thật kĩ / Nét hoa văn anh chưa gặp trong đời / Thứ gỗ này ngoài quê mình không có … //[…] Những đường vân kì lạ / Chỉ cần đẩy nhát bào sắc, nhẹ / Cả sắc trời khoáng đãng sẽ bừng lên // […] Nét hoa văn nghìn năm rừng già / Trong tầm mắt nhìn xa / Và, giọng trầm thiết tha người thợ: / - Mỗi loài cây có đường vân riêng / Làm sao để từng thớ gỗ / Được hiện hình toàn vẹn nét hoa văn!”.

Bài thơ Khoảng sáng trên trần nhà (19) đích thực là một bài thơ “đau đời” (nói theo từ ngữ hồi đó):

“có một ngày bất chợt quãng trời xanh / ập vào mắt tôi cái nhìn trẻ nhỏ / tôi bước đi – như người vỡ nợ / ôi dò phong lan – anh có lỗi với em! // tưởng có lúc chìm vào lãng quên / đất dưới chân ngỡ ngàng xa lạ / những dãy phố buồn thiu quán trọ / tôi chỉ còn là nỗi đau của em // tôi nhìn lên khoảng sáng mênh mông / viên ngói vỡ nên chẳng còn lăng kính / một ngôi sao ban ngày lóng lánh / cuối trời xa // có tiếng chim qua khoảng trống dội về / nghe trong vườn màu địa lan thắm đỏ / lặng im ngọn lửa / tôi làm thơ trong khoảng sáng riêng // và tôi nói với mình / như rễ cây nói vào lòng đất / sau mây là ngôi sao xanh / soi thấu mọi điều trên bàn tay anh”.

Phải nói ngay rằng, đây là bài thơ tâm trạng “hướng ngoại” thành công nhất của nhà thơ Hà Linh Chi. Anh đau nỗi đau đời, đau vì cuộc đời trì trệ, trầm uất, bởi những nguyên nhân sâu xa của chính thói đời… Chính vòm trời cao trong veo kia đã cho anh một cái nhìn của trẻ nhỏ, tuy vô tư nhưng đầy oán trách và lắm dấu hỏi. Cái nhìn ấy tự xoáy vào anh, tạo nên trong trái tim anh một vết thương đau đớn, và anh biết nhận trách nhiệm về mình, vô hình trung cũng phê phán những ai như mình. Bầu trời thì thế, còn đất đai dưới chân? Anh không thể lẫn trốn trong lãng quên! Đất không nhận anh là người con ruột thịt của đất nữa, như thể bởi chính anh đã góp phần làm Đà Lạt điêu tàn, hoang phế đến thế! Từ tâm trạng dằn vặt đó, bằng cách gút lại tứ thơ trong các ẩn dụ: viên ngói trên trần nhà đã vỡ, vỡ cả lăng kính của mắt nhìn, để xuyên qua khoảng sáng chân thực ấy, anh nhìn thấy rõ một vì sao xanh biếc của thiên nhiên đất trời đang nhìn anh, thấu hiểu anh, đọc hết những bài thơ anh đang viết. Điểm sáng thẩm mĩ hay còn gọi là nhãn tự của bài thơ chính là hai chữ lăng kính. Theo thành ngữ, người ta thường nói, nhìn đời qua lăng kính màu gì, cuộc đời sẽ là màu đó (tươi hồng, xanh mát hay vàng chói, đen tối?). Theo đó, cái nhìn không lăng kính có nghĩa là cái nhìn không bị định kiến làm đổi màu, sai sự thật. Hãy nhìn thẳng vào thực chất xã hội, con người bằng cái nhìn chân thực như xã hội, con người đang hiện hữu. Đừng nhìn bằng lăng kính định kiến. Đừng nhìn bằng lăng kính xuyên tạc. Đừng nhìn bằng lăng kính giáo điều. Nhà thơ Hà Linh Chi muốn mọi người đừng bị ý hệ và niềm tin tôn giáo (qua biểu tượng lăng kính) làm cái nhìn sai lệch, bị “nhuộm màu”!
Đối với nhà thơ Hà Linh Chi, đó là một trong vài bài thơ quan trọng nhất và thành công nhất của anh. Hà Linh Chi, bằng thơ của mình, đã góp phần tác động, mở đường cho công cuộc Đổi mới (1986) và Cởi trói (1987). Sống với trái tim nhạy cảm và một trí tuệ sắc sảo, anh nhìn thẳng vào hiện thực xã hội, và hiện thực ấy đã thức ngộ cho anh như thế.
Ngoài mảng thơ viết về chiến trường Trị – Thiên trước Ngày Thống nhất (1975), tôi những muốn gọi những mối quan tâm thơ của anh về thực trạng cuộc sống xã hội, ở Lâm Đồng và khắp đất nước (giai đoạn 1976 – 1994) bằng bốn tên gọi: hoài niệm chiến tranh, tấm lòng nhân tộc, đất mới, và nỗi đau đời, như một cách cô đọng lại những gì thơ anh đã thể hiện, và tôi đã cảm nhận.
Chung quy, nhà thơ Hà Linh Chi là một thi sĩ hướng trái tim và mắt nhìn của mình ra với cuộc sống xã hội, chứ không chăm chú vào bên trong nội tâm riêng tư. Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và chủ yếu là Lâm Đồng là ba vùng đất anh sống và làm thơ. Chỉ riêng mảng thơ trong giai đoạn 19 năm (1976 – 1994) anh sống và viết tại vùng đất Nam Tây Nguyên ấy, với những gì anh quan tâm, không còn là thơ của riêng một tỉnh mà đã thành thơ của cả một giai đoạn đất nước trong cơn đau trở dạ thời hậu chiến.
Rất tiếc, anh đã mất cách đây mười năm.
Mười năm qua, hiện thực Đổi mới và Cởi trói lại có những vấn đề của nó. Những vấn nạn thuộc về giai đoạn trước đó chưa được giải phóng một cách thật triệt để, mà càng trói buộc thêm những gì cần tháo mở (như nội dung khái niệm nền độc lập, tự do, dân chủ chân chính, gồm cả quyền độc lập, tự do, dân chủ cụ thể cho mỗi con người…), lại tháo mở những gì lẽ ra phải kìm chế (như thói ăn chơi, “đầu độc” tuổi trẻ…). Vòng lẩn quẩn của cuộc sống xã hội đôi khi y hệt một câu Kiều, “cởi ra rồi lại buộc vào như chơi”; và khi đã bị thắt vào, phải có một xung lực nội tại để nó lại tháo ra… Phải chăng biện chứng của hiện thực nước ta là thế? Tôi cảm thấy tiếc biết bao khi anh Hà Linh Chi không còn có thể làm thơ được nữa, bởi cái chết đã cướp anh đi. Dẫu sao, thơ anh và những mối quan tâm của anh về cuộc sống Lâm Đồng và cả nước vẫn còn đó trên những trang sách, trong bao tấm lòng bè bạn.
Làm sao quên được anh Hà Linh Chi!
Tôi mãi còn nhớ các tuyển tập thơ nhiều tác giả thuở ấy, Đất gọi thầm, Như anh em một nhà, và sau đó, khi tôi đã rời khỏi Lâm Đồng, là Đà Lạt, thơ. Mấy bài thơ tôi viết tặng anh, về sau, tôi đã in lại trong các tập thơ riêng đã xuất bản, trước hết là như một cách lưu giữ những kỉ niệm khó quên…
Làm sao quên được anh Hà Linh Chi!

4

Gặp nhau

“”Kính tặng anh Hà Linh Chi

“rất lâu mới gặp nhau / cánh tay như sóng biển / trên vai tôi, sóng choàng / tôi như hòn đảo nhỏ / đứng lặng trong nỗi mừng // rất lâu mới gặp nhau / chén rượu chiều sóng sánh / bài thơ “chiều củi rụng” (*****)/ đập vào vách đá im / nước mắt tràn trong đêm // rất lâu mới gặp nhau / cười đó rồi khóc đó / có khóc thì khóc thầm / có cười thì cười vỡ / sóng vỗ bờ đảo xanh // rất lâu mới gặp nhau / rượu cuồng đêm tâm sự / sáng ra còn làm, ăn / sóng còn ru đời nữa / đảo còn vui chim muông // rất lâu mới gặp nhau / để biển thêm tiếng sóng / đảo xanh vì mai sau / biết thế nào mà hẹn / tóc còn xanh trên đầu…”.
xanh vì mai sau / biết thế nào mà hẹn / tóc còn xanh trên đầu…”.””
1982


Ngôi nhà bên thung lũng sương

“”Kính tặng anh Hà Linh Chi và chú Hồ Phú Diên

“từ một nơi xa xôi tôi trở về thành phố / con dốc cao, đồi cỏ mượt, nắng vàng/ hoa! / hoa rung vào lòng bao thanh âm rạng rỡ / nghe hương mùa thơm trong lá thông / tôi lại về với nơi tôi thường nhớ / gió bồi hồi chiều ơi yêu thương // ngôi nhà bên thung lũng sương / chiều tháng tám, nắng đọng lại đằng sau khung cửa / lồng ngực rộn ràng, ngón tay khẽ gõ / (anh chị ơi, anh chị ơi, em đã về nhà) / và nắng ấm ùa ra… / tôi đứng ngẩn ngơ / giữa những nụ cười quây quần rất trẻ / siết chặt tay tôi là những bàn tay tin yêu nồng nhiệt thế / tôi biết nói gì, ân nghĩa ấy, bao la // dẫu giọng đọc đã khàn đi sau hai mùa kháng chiến / ánh mắt vẫn trong ngần soi nắng xuống trang thơ / ta hoà vào nhau từ mạch nguồn sâu thẳm / (ghềnh thác gian lao để sâu lắng lòng hồ) / tôi biết nói gì, ân nghĩa ấy, bao la // căn phòng đầy ắp tiếng thơ / vang vọng đêm rừng già thác đổ / vang vọng tiếng rơi thầm của máu / tiếng reo xanh bên đường phố, sớm mai / cả tiếng thở dài trong bóng tối, lẻ loi… // âm hưởng tự cõi người / cho mỗi trái tim rực đỏ / cho lòng ta bồi hồi / tôi biết nói gì? thơ hãy nói giùm tôi! // và Đà Lạt ơi! / thành phố rất thân yêu mà cả cuộc đời tôi / sao nhận hết vào lòng bao thanh âm rạng rỡ / sao hiểu hết con dốc cao, ngọn đồi xanh mướt cỏ / sao nghe hết hương mùa thơm trong lá thông… / nếu chẳng đến với nơi xa thành phố – / ôi những tấm lòng từ nguồn mạch yêu thương // nắng hừng đông ấm lên trong ngôi nhà đó / khung cửa mở ra mọi phía chân trời / tôi lại đến với nơi tôi vẫn ở / chào thung lũng sương long lanh sớm mai”.
nơi tôi vẫn ở / chào thung lũng sương long lanh sớm mai”.””
1982

Sau khi chép lại hai bài thơ Gặp nhau và Ngôi nhà bên thung lũng sương vào bài viết này, tôi lặng người đi, và cảm thấy không nên viết thêm một dòng nào nữa, vì như thế cũng đã đủ để nhớ lại những kỉ niệm… Kỉ niệm, mười năm nay đã là kỉ niệm trong niềm tưởng tiếc, kỉ niệm ấy biết nói thế nào cho đủ!
Tuy vậy, hi vọng là cũng chẳng sao, nếu có thêm một vài câu như thể là ghi chú cuối bài này.
Lẽ ra, ở bài thơ Gặp nhau, tôi phải rút gọn tứ thơ Nỗi mong của người lượm củi đúng như anh Hà Linh Chi viết, là “bài thơ ‘chờ củi rụng’”, chứ không phải ‘chiều củi rụng’. Nhưng sử dụng chữ “chờ” sẽ khiến những vị lãnh đạo thuộc loại thủ cựu và maoisme đang tại vị thời bấy giờ chạnh lòng, chột dạ. Chưa hẳn các vị ấy biết đến bài thơ của tôi và bài Nỗi mong của người lượm củi tôi đã nhắc tới, nhưng các viên “cớm” sẽ gây khó dễ, thậm chí là chụp xuống đầu chúng tôi những tai hoạ. Tốt nhất là xem như củi đã rụng rồi sau đợt thanh lọc những cán bộ các cấp bị đánh giá là maoisme, chẳng hạn như Hoàng Văn Hoan. Tôi xem củi rụng cũng là một nỗi đau thuộc loại bi kịch về tranh giành ảnh hưởng giữa hai cường quốc Nga và Trung, mặc dù tôi không thích những kẻ như Hoàng Văn Hoan… Tôi chỉ nghẹn ngào khi nghe bài thơ Nỗi mong của người lượm củi của anh Hà Linh Chi.
Thật sự, tôi và anh Hà Linh Chi chỉ ước ao các vị lãnh đạo tỉnh sẽ cho thành lập Hội Văn nghệ Lâm Đồng, để ra được một tập san văn nghệ, và chỉ có vậy. Nhưng thời bấy giờ, đó là cả một vấn đề! Thật quá mức nghiệt ngã, hẹp hòi, đến mức ai có chút máu văn nghệ cũng phải xin rời khỏi Lâm Đồng hoặc bị đơm bẫy, bị ép, bị đuổi khỏi tỉnh đó!
Mặt khác, tình hình tại Lâm Đồng thời ấy còn có một luồng sức ép ngấm ngầm nhưng rất kinh khủng khác nữa, chứ chẳng riêng phía các “cớm”. Đó là catholique… Có một chi tiết xem ra cũng khá buồn cười: “cớm” (công an) hay catholique cũng đều được viết tắt là CA.!
Về những kỉ niệm ở Lâm Đồng và riêng tại Đà Lạt, tôi đã viết ít nhiều trong cuốn tiểu thuyết Ngôi trường tháng giêng (*), qua phương thức hư cấu (thay đổi về tên tuổi, nhân dạng, giọng nói và một vài chi tiết nhỏ khác), nhưng vẫn rất thật. Nhân vật Cao Hồng Thứ, đó là anh Hà Linh Chi, và ông Võ Phả không là ai khác, mà chính là chú Hồ Phú Diên, một người vốn xem tất cả mọi nguồn mạch của chủ nghĩa yêu nước, cho dù qua thác, qua ghềnh, rồi cũng đều đổ về một sông, một hồ, một biển.
Trong tập Lời đá, nhà thơ Hà Linh Chi có bài thơ Một câu thơ nửa chừng (20), viết về một lần anh xuống Thuận Hải thăm chú Hồ Phú Diên, sau khi chú ấy chuyển công tác về tỉnh đó, với lời đề tặng “Nhớ anh H. P. D.”.

“… Cái giọng anh rè khàn / qua bao mùa mưa nắng / vẫn bồi hồi sâu lắng / vẫn tin yêu nồng nàn / trong gió lùa từng cơn …”.

Thế mà người trước, người sau, hai người kính mến ấy đã trở thành thiên cổ!
Kỉ niệm trong niềm tưởng tiếc, xin hãy cùng nén hương trầm toả ngát…

TP. HCM., khởi viết từ 06 giờ 59 phút, ngày 28. 10. HB4 (15. 09. G. thân HB4);
viết xong lúc 11 giờ 19 phút, ngày 29. 10. HB4 (16. 09. G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN


(1) Hà Linh Chi, Lời đá (LĐ.), tập thơ, Lời giới thiệu, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM. & Hội Văn nghệ Lâm Đồng, 1995, tr. 4.
(2) LĐ., sđd., tr. 34 – 35.
(**) Những chữ đầu mỗi dòng thơ viết hoa hay không, tôi giữ nguyên theo cách trình bày của tác giả (hẳn Hội Văn nghệ Lâm Đồng & Nxb. Văn Nghệ TP. HCM. cũng giữ nguyên như thế).
(3) LĐ., sđd., Lời giới thiệu, tr. 3 & phần gấp bìa 1: Hà Linh Chi được sinh ra đời ngày 09. 10. 1940, mất ngày 21. 06. 1994.
(***) Đại để, ý nói: Nước Việt Nam chúng ta mang “di căn nhược tiểu, nô lệ”, quá lệ thuộc vào Nga Xô-viết [Cộng hoà Liên bang Xô-viết do Nga đứng đầu] (và Trung Cộng). Diễn đạt theo ngôn từ minh xác của sử học: Chính vì sự lệ thuộc đó, nên một phân số không ít trong dân tộc Việt Nam ta không tham gia phong trào Xô-viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931), cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp (1945 – 1954) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phân số nhân dân ấy, từ đó về sau (1954 – 1975), lại bị kẹt giữa hai gọng kìm lịch sử “tả đạo” (Thiên Chúa giáo) và chủ nghĩa vô thần cộng sản, nên phải dựa vào một bên để lần lượt bẻ gãy hai gọng kìm đó, theo phương cách nhu thuật. Với tinh thần sử học xác thực và công bằng, tôi viết rõ ý tưởng này, ngõ hầu giảm bớt sự ngộ nhận về những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thuần tuý, trước đây thường bị xếp chung nhất loạt là “ngụy”, và để góp phần tạo nên niềm cảm thông, hoà giải dân tộc. Chỉ có lực lượng Thiên Chúa giáo và những tên tay sai của thực dân, đế quốc mới đích thực là ngụy.
Những dòng chú thích trên, tôi viết thật rõ như vậy, mục đích chính là để người đọc cảm thông được bối cảnh xã hội nước ta nói chung và riêng ở Lâm Đồng. Đó là một thời đoạn trong xã hội vẫn còn nhiều sự xung đột tư tưởng, chính kiến một cách ngấm ngầm hoặc khá lộ liễu, do đó không thể không tác động đến người làm thơ, viết văn, trong đó có nhà thơ Hà Linh Chi. Có thể diễn đạt tình hình xã hội – sáng tác bằng các thuật ngữ văn học: đó là bối cảnh xã hội với các xung đột mâu thuẫn của nó trong tương quan với tâm thế sáng tác văn chương của nhà thơ, nhà văn và mối quan hệ giữa họ với nhau…
Xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đã sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).
(4) LĐ., sđd., bài Cây sô-la-num nở hoa, tr. 34 – 35.
(5) LĐ., sđd., bài Tôi bơi qua dòng sông, tr. 14 – 15.
(6) LĐ., sđd., tr. 5 – 6.
(7) LĐ., sđd., tr. 7 – 9.
(8) LĐ., sđd., bài Sông suối miền Trung, tr. 14 – 15. Tôi dùng hai từ Miền Nam, Miền Bắc (đều viết hoa) để chỉ hai phần Đất nước, bị chia cắt ở sông Bến Hải (1954 – 1975). Từ “miền Trung” ở đây tương tự như Trung Kỳ (Bình Thuận – Thanh Hoá).
(9) LĐ., sđd., tr. 22 – 24.
(10) LĐ., sđd., tr. 29 – 30.
(11) LĐ., sđd., tr. 44.
(12) LĐ., sđd., tr. 58 – 59.
(13) LĐ., sđd., tr. 76.
(14) LĐ., sđd., tr. 38 – 39.
(@) Pạp: bố (chú thích của Hà Linh Chi).
(15) LĐ., bài Đi chợ may xưa, sđd., tr. 67 – 68.
(16) LĐ., bài Điệu mái nhì nghe hát ở thượng nguồn sông Đồng Nai, sđd., tr. 67 – 68.
(17) LĐ., sđd., tr. 88.
(****) Sự kiện Cởi trói do tổng bí thư Nguyễn Văn Linh khởi xướng, năm 1987.
(18) LĐ., sđd., tr. 87.
(19) LĐ., sđd., tr. 91 – 92.
(*****) Xin xem bài Nỗi mong của người lượm củi của Hà Linh Chi, chú thích (17).
(20) LĐ., sđd., tr. 47 – 48.

Đã gửi: (30. 10. HB4)
Chị Kim Chi (vợ anh Hà Linh Chi)
(để được góp ý).



_____________________________

Bài thứ mười

Phụ lục 1:

MỘT VÀI YẾU TỐ TRONG SÁNG TẠO
& TIẾP-NHẬN-ĐỒNG-SÁNG-TẠO

Trong văn chương, cả trong nghệ thuật nói chung, không hiếm trường hợp tác giả bị (hoặc được) đồng nhất với nhân vật, tâm trạng tác giả đồng nhất với tâm trạng trữ tình trong tác phẩm. Tố Như đồng nhất với Kiều, Ôn Như Hầu đồng nhất với cung nữ, Đặng Trần Côn đồng nhất với chinh phụ, thậm chí có tác giả đồng nhất với loài vật như Thế Lữ với con hổ, vân vân, có thể là những suy diễn có lí, cũng có thể rất khiên cưỡng (*). Nhưng Nguyễn Bính và Nguyễn Nhược Pháp không thể là thôn nữ “lỡ bước sang ngang” và cô bé đi chùa Hương! Tuy nhiên, sự đồng cảm hoặc cảm thông sâu sắc giữa tác giả với nhân vật trữ tình, kể cả cái tôi khách thể được biểu hiện dưới dạng tự biểu hiện (như Lời kĩ nữ của Xuân Diệu, đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, vốn được xem là một bài thơ hoàn chỉnh rất hiện đại, của Nguyễn Du), vẫn là điều tất nhiên, mặc dù tác giả là tác giả, nhân vật là nhân vật, cái tôi tác giả khác với cái tôi trong tác phẩm, đối chiếu và kiểm xét trên mọi mặt.
Ở tất cả mọi trường hợp, mọi tác giả đều tự nội quan, tự nghiền ngẫm từng ngóc ngách vi tế của thế giới chủ thể bên trong và suy nghiệm thế giới khách thể bên ngoài từ sự quan sát, tiếp xúc, cọ xát với đủ mọi tầng lớp người, mọi quan hệ xã hội – tự nhiên, để có thể vận dụng vào quá trình hư cấu, sáng tạo. Tuy nhiên, từ đó, cũng làm sao có thể đồng nhất hoá nhân vật, tâm trạng trữ tình với đời riêng của tác giả, tâm trạng của tác giả theo sự suy diễn chủ quan!
Nếp cảm nhận đồng nhất hoá ấy cố nhiên đã ít nhiều ràng buộc, kìm hãm sự tự do sáng tạo, khả năng, tiềm lực sáng tạo của biết bao nghệ sĩ. Có lẽ cần xác định rõ những ranh giới khá mơ hồ của các phương thức phản ánh. Đó là một việc quá khó trong thực tiễn viết và đọc. Bởi lẽ, làm sao biết được đúng và đủ mọi ngóc ngách sâu kín với nhiều nghịch lí phức tạp, nhiều biến thiên kì quái lạ lùng của tâm thức, kể cả vô thức của con người! Chưa kể, nhiều tác giả mạnh dạn thể hiện cái dục vọng phổ quát một cách tự nhiên chủ nghĩa, khai thác cái bản năng trắng trợn và ẩn kín, chạy trốn cái tôi thực hữu và hiện thực xã hội để ẩn núp vào mịt mù bí hiểm, siêu thức và siêu thực, như một khám phá, sáng tạo, đổi mới, như một thoát li thực tại, hoặc nhằm mục đích hạ bệ Con Người (viết hoa) với ý đồ ngoài nghệ thuật. Tuy nhiên, trong tầm nhìn cởi mở, không nên cảm nhận nghệ thuật một cách máy móc. Đâu là tái hiện trung thực, lạnh lùng? Tái hiện lãng mạn? Đâu là lãng mạn thuần chất? Viễn tưởng? Hoài niệm? Dự phóng? Thần tiên? Đâu là tái hiệp bóp méo, cường điệu kiểu biếm hoạ? Bôi đen? Tô hồng? Lấy cái cá biệt làm cái điển hình? Đâu là chỗ đứng và tâm thế của người phản ánh trong một thời điểm nhất định? Chính các tác giả cũng mơ hồ về bản thân, bởi có ai hiểu hết thế giới bên trong của chính mình, nữa là người đọc và người nghiên cứu! Vô thức, tiềm thức thường xuyên tham dự vào quá trình sáng tạo là một lẽ. Lẽ khác, chính các tình tiết cấu tạo nên tác phẩm, ngoài việc thể hiện tầng nghĩa cơ bản, còn tự chúng tạo nên nhiều lớp nghĩa khác. Lẽ khác nữa, người đọc đã đồng sáng tạo trong quá trình tiếp xúc với hình tượng bằng cả con người mình. Và, bản thân hình tượng như một thực thể sống mà tài năng của nghệ sĩ chỉ ghi nhận, tái tạo hoá theo cách riêng của mình và dẫu muốn cũng không thể thấu hiểu đến mức tận cùng của thực thể ấy! Như bất kì thiên tài nào khác, Nguyễn Du chắc chắn sẽ bật ngửa trước phát hiện của người thưởng ngoạn thuộc vạn thế hệ sau ông, khi họ thưởng thức tác phẩm của ông! Cũng như đối với trường hợp Nguyễn Du, người đọc có thể không chia sẻ, đồng ý, đồng tình với tư tưởng triết luận của Lép Tôn-xtôi (Léon Tolstoi) nhưng những hình tượng nghệ thuật mãi mãi chinh phục người đọc ở mọi không gian, thời gian và mãi mãi mời gọi khám phá, sáng tạo. Hình tượng Yê-su (Jésus Christ) trong Kinh thánh cũng vậy. Nhiều nghệ sĩ đã tiếp nhận hình tượng này không giống nhau, ngay cả nhận thức của nhiều giáo sĩ, giáo phái Ki-tô (Christo) cũng khác nhau! Có thể nói thế này được chăng, tác giả dù sinh nở, tạo hoá ra hình tượng, nhưng bản thân hình tượng vẫn có những tầng nghĩa khách quan mà tác giả không ngờ đến?
Nếu quả thật như vậy, nghệ sĩ sáng tác bị đặt vào thế phải thường xuyên chỉnh đốn, cải thiện tâm thức, thường xuyên tu tâm, thường xuyên soát xét các giác quan (ngũ quan, lục thức) dù dấn thân, nhập thân vào tận cùng thực tế cuộc sống trong giới hạn cho phép, như một cách cải tạo và cảnh giác các mầm độc do tập nhiễm hoặc do bản năng gốc mang tính phổ quát của sinh vật. Phải chăng đấy chính là phương thức cốt tuỷ của các thiền sư? – Thường xuyên quét bụi, tắm rửa tâm linh? Thường xuyên làm vệ sinh vô thức, tiềm thức? –. Phải chăng, từ đấy mà tạo được thần sắc, thần tướng cho một và nhiều Cái Đẹp nghệ thuật của các nghệ sĩ và ngay trong phong thái nghệ sĩ? Tu tâm và tu tài phải là một nỗ lực suốt đời thì nào ai dám tự bảo mình đã thành chánh quả trong nghệ thuật! Ngay trong tác phẩm của nhiều bậc thánh, nhiều hiền giả cũng còn nhiều tì vết đạo hạnh và hạn chế lịch sử đáng nói! Vấn đề ý tại ngôn ngoại dù có ý thức hay không ý thức, quả lắm vấn đề, trong đó có vấn đề trách nhiệm đối với người đọc. Phải chăng một nền văn hoá, văn nghệ sinh động phải luôn được phê bình và tự phê?
Cần được thông cảm như vậy để bớt đi những ngộ nhận, những trói buộc bởi định kiến. Và nghệ sĩ cũng không muốn tung hoả mù vào tác phẩm và thẩm thức!
Khuynh hướng chung toát ra từ tác phẩm mới đích thực là một hoặc tất cả các khía cạnh tư tưởng, tình cảm và lí tưởng thẩm mĩ (bao gồm quan niệm về chân và thiện) của tác giả. F. Ăng-ghen (Fridrich Engels) cũng đã từng nói thế.

Tp. Hồ Chí Minh, 1996.
TRẦN XUÂN AN

(Bài đã đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP. HCM.,
số 9/98, 02. 04 – 08. 04. 1998
& trên tạp chí Cửa Việt, số 42 [03. 1998]).



(*) Trường dụ là ẩn dụ xuyên suốt cả tác phẩm, chứ không chỉ ở một câu, một đoạn. Trong các trường hợp này, Kiều, cung nữ, chinh phụ, con hổ được xem như ẩn dụ phát triển thành trường dụ.



______________________

Bài thứ mười một

Phụ lục 2:

CẢM THỨC LỤC BÁT

1

Cảm thức lục bát được thấm đượm, khơi mở và hình thành từ tiếng ru bên vành nôi, từ câu hát điệu hò bên luỹ tre xanh.
Ca dao hầu hết được sáng tác, truyền miệng với thể lục bát và lục bát biến thể. Thi ca dân gian – những vần, những nhịp thơ, cất lên từ ruộng rẫy sông nước – đã được tiếp thụ, phát triển trong dòng “văn học bác học”. Trong đó nổi bật lên là Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc. Truyện thơ Lục Vân Tiên cũng tiếp thụ thể vè (1) dân dã với mục đích thiết thực và muôn đời, ấy là luân lí. Rồi lại đến lượt tiếng thơ bác học trở thành tiếng ru bên vành nôi, thành câu hát điệu hò nuôi dưỡng đất nước và tâm hồn Việt Nam.
Lục bát, song thất lục bát đều khởi nguồn từ ca dao, từ giọt mồ hôi trên dảnh mạ, mái chèo.

2

Trong hàng vạn, hàng triệu câu ca dao, số lượng lục bát được gieo vần trắc (2) chiếm một tỉ lệ nhỏ. Đó là những cặp lục bát có khuynh hướng trở thành tục ngữ hoặc đã là một bài thơ hai câu hoàn chỉnh.

Tò vò mà nuôi con nhện
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi.
Và:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Đêm năm canh chầy thức đủ vừa năm.

Nếu câu lục bát vần trắc được phát triển thêm, nó phải trở về vần bằng (2). Đó là một điều hết sức thú vị!
Vần trắc, nhịp chẵn ở thể thơ bốn chữ hoặc thể thơ tám chữ với nhịp 4\4 trở về với lục bát vần bằng cũng tạo một rung cảm thẩm mĩ! Sau này những bài thơ thể tự do trong kháng chiến của Yên Thao (Nhà tôi), Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống), với các đoạn lục bát trữ tình sâu lắng, đã kế thừa từ “Trước bến Văn Lâu…” của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, mà Ưng Bình đã tiếp thu từ “Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá…” của người dân sông nước xứ Huế.

Anh nói với em như dao chém vào đá (4\5)
Như rạ (rựa) chém vào đất (2\3)
Như mật rót vào tai (2\3)
Bây giờ em nỡ nghe ai
Để anh lên xuống Đông Đoài cực chưa!

Bài trên, vần rơi vào nhịp chẵn nhưng câu thơ thì ở nhịp lẻ. Và độc đáo là hai câu kết lại trở về lục bát vần bằng!
Cũng mô thức ấy, các câu thất ngắt nhịp (*) thuần Việt, vần trắc nhịp lẻ, đã tổ hợp với lục bát vần bằng thành một chỉnh thể:

Áo xông hương \ của chàng vắt mắc
Đêm em nằm \ em đắp lấy hơi
Gửi khăn, gửi túi, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đằng xa.

Song thất lục bát tuyệt hay như thế và các cặp câu thất vần trắc nhịp lẻ thuần Việt thế này thì trong kho tàng ca dao tục ngữ, có nhiều vô số:

Tóc em dài \ em cài hoa lí
Miệng em cười \ hữu ý, anh thương!
Và:
Gái thương chồng \ đương đông buổi chợ
Trai thương vợ \ nắng quái chiều hôm.

Mở rộng khía cạnh vần trắc, nhịp lẻ đó, chỉ nhằm nêu rõ một đặc điểm nổi bật sau đây trong thể lục bát: Vần bằng; mặc dầu không nhiều, vẫn có lục bát vần trắc. Vả chăng, đây là một điều cần suy nghĩ: lục bát biến thể, song thất lục bát vẫn là lục bát, cho dẫu song thất lục bát đã phát triển thành một thể riêng với các luật tắc ổn định và đạt được những thành tựu rực rỡ.

3

Lục bát thuần tuý, dù một bài hai câu chỉ gồm 14 âm tiết (14 chữ) hay cả một trường ca, một tiểu thuyết thơ dài vài ngàn câu, vần gieo chỉ là vần bằng.
Thanh bằng, cả vần lưng, vần chân, xoắn xuýt, quấn quýt, nương níu từ đầu đến cuối bài thơ hay truyện thơ như một dòng chảy liên tục không đứt đoạn. Nếu có trường hợp cần đứt đoạn như một thủ pháp nghệ thuật thì phải dùng điệp từ đảo trang để nối mạch thơ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Đó là trường hợp đặc biệt (cũng có thể lí giải bài trên đã được gieo điệp vần từ “vàng”, chữ thứ hai ở câu lục).
Và cũng cần lưu ý, điệp vần, ngay cả không đổi vần (vần: âm chính + không hoặc có âm cuối) trong nhiều câu liên tiếp cũng làm hạn chế nhạc tính của lục bát. Là dòng chảy, nhưng lục bát không thể độc vận. Độc vận là cái chết của con sông lục bát!
Vần chân và cả vần lưng (cước vận, yêu vận) đều ở thanh bằng, dù thanh bằng không dấu (phù bình thanh) hay mang dấu huyền (trầm bình thanh). Ở câu tám, có cả vần lưng lẫn vần chân, nhưng nhất thiết phải một không dấu và một dấu huyền.
Dù lục bát là thể thơ cách luật ít câu thúc, lại rất uyển chuyển, phóng khoáng, nó vẫn có hai yêu cầu phải tuân thủ: vần bằng và phân biệt thanh trong vần bằng.
Đây là một bài thơ có thể phá vỡ tất cả luật hài thanh cơ bản nhưng vẫn có thể chấp nhận được?

Bây giờ ngoài mình mưa chưa
Ngày vàng se, ngày đang thưa môi cười
Sông người dưng, sông trôi xuôi
Con như lênh đênh theo đời từ lâu!
Khi không, đâu hay nơi đâu
Bay ngang trời, bay bay màu mây sương
Tay ôm đầu thương quê hương
Ơi lều tôn run bên đường mưa bay!
(TXA., bản thử nghiệm)

Tất cả các âm tiết trong bài đều ở thanh bằng!
Về thanh và vần, xin mở một ngoặc đơn ở đây:

Chênh vênh lênh đênh đường đang xa
Bóng tôi đã khuất với quê nhà
Cát chìm cát trắng nắng hoa
Lá về cội cũ xanh oà chồi non.
(TXA., trong tập KBNVB.)

Đó là song thất lục bát thử nghiệm với hai câu thất gieo vần chân thanh bằng!
Nhìn chung, về vần và thanh, cảm thức lục bát thiên về âm hưởng nhẹ nhàng và tinh tế. Điều đó phản ánh khả năng thẩm âm và phối thanh rất tinh của người Việt, thể hiện ở một ngôn ngữ giàu âm thanh, chú trọng đến âm thanh (6 thanh) mà những nhà thơ hôm nay thừa hưởng và nỗ lực nâng cao.

4

Về nhịp. Nhịp lục bát biến hoá rất tự do để biểu đạt cảm xúc nội dung, nhưng nhìn chung, nhịp chẵn (6 // 6 \ 2 hoặc 6 // 4 \ 4; 6 // 2 \ 6; 2 \ 4 // 6 \ 2 …) vẫn chủ đạo trong từng câu. Trong từng bài hay trọn trường ca, trọn tiểu thuyết thơ, nhịp sáu // tám (câu chẵn ngắn // câu chẵn dài) nối liền nhau vẫn là nhịp tổng thể của âm hưởng toàn tác phẩm. Nhịp thơ không những khoan thai, êm đềm, ríu rít, bay bổng… mà còn có thể gay gắt, thắt, nén, tắc, nghẹn, bùng nổ, dồn dập… nhưng vẫn trên nền tảng âm hưởng chủ đạo ấy. Ngỡ như lục bát đơn điệu nhưng kì thực rất phong phú và đa dạng.
Nhịp cũng thể hiện ở cách gieo vần. Ngoài cách gieo bình thường, còn có thể gieo vần lưng ở chữ thứ hai hoặc chữ thứ tư của câu tám (nhịp chẵn):

Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương.

Dù ở câu tám phá thể, vần vẫn phải rơi về chữ kế áp cuối và chữ cuối câu để giữ nhịp chẵn trước khi dứt câu:

Chăn đơn nửa đắp nửa không
Cạn sông lở núi, ta đừng quên nhau
Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc giấu hay là bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ quên cha, quên cửa quên nhà
Làm cho quên cả đường ra lối vào
Làm cho quên cá dưới ao
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời.
Và:
Đất bụt mà ném chim trời
Ông Tơ bà Nguyệt xe dây, xe nhợ nửa vời ra đâu!
Cho nên cá chẳng bén câu
Lược chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim […]

Tại sao vần phải là thanh bằng và nhịp phải là nhịp chẵn trong lục bát thuần tuý? Tại sao, trong song thất lục bát, ngay ở hai câu thất, dù gieo vần ở nhịp lẻ, nhưng hai câu thất ấy phải bắt vần vào nhau thành cặp như một điều luật? Và nhạc thơ thắt, nén ở hai câu thất lại duỗi, đằm ở hai câu lục bát; rồi nhạc điệu ấy cứ tuần hoàn một cách linh hoạt suốt cả bài thơ, khúc ngâm?
Có khiên cưỡng chăng, khi nói cảm thức lục bát thiên về âm hưởng nhẹ, đằm, sâu lắng và tinh tế?
Cảm thức ấy còn thể hiện một nhân sinh quan gắn bó, quấn quýt lẫn nhau và không thích những gì không có đôi có cặp. Trên nền tảng ấy, cảm thức lục bát vẫn dung chứa hết mọi cung bậc tình cảm, mọi cường độ cảm xúc, mọi sắc độ tâm trạng… Nhạc điệu lục bát gợi nên cảm giác về sự hài hoà giữa tính cương (độ căng, nặng) với tính nhu (độ giãn, nhẹ) khi tổ hợp với các câu thất thuần Việt? Và lòng nhân hậu cũng thể hiện trong cảm thức này: dù biến thể hay đã trở thành song thất lục bát, thì cuối khổ, cuối bài hoặc thiên, cũng phải là hai câu lục bát; như thể ở đời, dẫu trúc trắc trục trặc đến mấy đi nữa, thì cuối cùng cũng mong đằm thắm, nhẹ nhàng, quyến luyến, gắn bó vào nhau.

5

Khả năng biểu đạt, chuyển tải của lục bát hầu như phong phú, tinh tế vào bậc nhất. Như đã nói, lục bát trường thiên có thể dài tối đa, hàng ngàn câu, thậm chí hàng vạn câu, nếu muốn, tuy nhiên cũng có nhiều bài ca dao hoàn chỉnh chỉ hai câu 14 âm tiết (14 chữ), ngắn hơn hai-ku của Nhật (17 âm tiết). Tiểu thuyết lục bát rất dài nhưng không đơn điệu, và có thể chuyển tải một cốt truyện giàu kịch tính với một dung lượng hiện thực lớn – đan xen vào các tuyến nhân vật và các cảnh đời (Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái…) hoặc mơ mộng, diễm tình (Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự…). Trường ca lục bát như một khúc ngâm trữ tình sâu lắng, da diết (Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính…), như một hùng ca, sử ca thấm đượm cảm xúc (Việt Bắc, Nước non ngàn dặm của Tố Hữu; có thể kể thêm một trường ca song thất lục bát của ông: Ba mươi năm đời ta có Đảng…), như một thiền ca ẩn dật, lánh đục về trong, thanh thoát, bay bổng (Đưa em tìm động hoa vàng của Phạm Thiên Thư…). Thơ lục bát trữ tình, châm biếm thì vô số (từ ca dao: “Đêm đêm ra đứng bờ ao…”; “Lỗ mũi mười tám gánh lông…” đến các tác phẩm hiện đại). Lục bát nhông những có thể biểu đạt, chuyên chở một cách tinh tế, nhuần nhị, cô đọng mọi tâm trạng buồn sầu, thắm thiết, u hoài, dịu ngọt, mà còn rất tuyệt vời với mọi loại thơ, với tất cả phạm trù mĩ học tuỳ theo lí tưởng thẩm mĩ của nhà thơ trước hiện thực đời người, xã hội.

Đêm khuya đèn tắt tối thui
Bếp ai còn lửa cho tôi lùi củ khoai!

Đó là một bài ca dao hai câu tục tĩu lại rất nghệ thuật! Và còn có thể nhận định, trong trường hợp câu ca dao này, tính dung tục bất chấp tính thiện! Đây là một trong những hạn chế của văn học dân gian cần ghi nhận. Hay ta hiểu lệch?

Suốt ngày nằm ngả nằm nghiêng
Không ai nằm sấp trên miềng (mình) cho vui! (**)

Bài lục bát hai câu dân gian này, khó hiểu lệch được nữa!
Câu thơ lục bát cao sang của Nguyễn Du có khi cũng biểu hiện và phản ánh những gì rất ghê tởm nhất ở lầu xanh!

Này con học lấy nằm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề!


6

Tuy nhiên như đã trình bày, lục bát là tiếng ru, chính xác hơn là mang âm hưởng của nhịp ru dìu dịu, buồn buồn, trầm lắng, đều đều. Là tiếng ru, dù ru con, ru em bằng sử thi:

Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ để lại chốn này ai nuôi?

thì vẫn thao thức, chiêm nghiệm; hoặc:

Ru con con ngủ cho lành
Cho mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm (quế? phượng?) cho chồng đi quân.

thì lục bát vẫn mang âm hưởng trầm hùng, đằm sâu.
Lục bát uyển chuyển, mềm mại, linh động, phát xuất từ cốt cách của một dân tộc tự tin và bản lĩnh, hiếu hoà và nhân bản, suốt bốn nghìn năm.
Lục bát gợi âm hưởng miên man, mênh mang, không đứt rời, và tưởng chừng hoà nhập vào bao la cho dù chỉ ở một bài ca dao cực ngắn (thanh bằng).
Đó là triết lí Việt Nam và Phương Đông.
Thâm trầm. Thâm thuý. Nhẹ nhàng. Ung dung. Tự tại.
Từ cái chung Việt Nam, đặc sắc Việt Nam, còn có những phong cách lục bát rất riêng của từng tác giả, góp phần làm phong phú thêm tính cách dân tộc và châu lục.
Vì lục bát là cảm thức, phong thái, cốt cách và điệu hồn Việt Nam, là bản sắc Việt Nam, tôi yêu lục bát. Tôi yêu lục bát từ vô thức, tiềm thức đến ý thức, từ cảm tính của trái tim đến lí tính của tâm linh. Và tôi nghĩ người Việt Nam nào cũng vậy.
Tuy nói đến thơ Việt Nam là nói đến lục bát, nhưng tâm hồn lục bát Việt Nam còn dung nạp và lan toả vào các thể thơ khác, từ thơ Đường Trung Hoa, hai-ku Nhật Bản đến xon-nê châu Âu, khi thể thơ ấy nằm trong tay các nhà thơ Việt Nam. Từ bản lĩnh ca dao (gồm nhiều thể thơ, kể cả thơ tự do dân gian; mà lục bát là chủ yếu), với bản lĩnh lục bát và song thất lục bát bác học (dù hiện nay đang có khuynh hướng “quên lãng” song thất lục bát, mà chỉ nở rộ lục bát!), họ có thể Việt hoá tất cả.

TRẦN XUÂN AN

(Bài đã đăng trên tạp chí Cửa Việt, số 27 [tháng 12. 1996]).



Chép lại trên máy vi tính, xong lúc 10 giờ 09 phút, ngày 02 tháng 11. HB4
(20. 09. G. thân HB4).



(1) Vè, trong cụm từ liệt kê bốn thể văn vần có diễn xướng “thơ, ca, hò, vè”, là một thể chỉ chú trọng đến yếu tố vần điệu. Đó là một hình thức tuyên truyền, kể chuyện, bình luận dễ nhớ, dễ hiểu. Vè xuất hiện nhiều ở miền Bắc và miền Trung.
(2) Vần trắc: vần mang thanh trắc; vần bằng: vần mang thanh bằng.
(*) Trong bài này, tôi sử dụng dấu sổ nghiêng về phía trái (\)như một kí hiệu ngắt nhịp của câu thơ, ca dao. Khác với các bài trước, kí hiệu hai dấu sổ nghiêng về phía phải (//) đã được dùng để ngắt dòng thơ thay vì phải xuống dòng; kí hiệu ngắt dòng (//) đó đi đôi với kí hiệu ngắt nhịp (\)này. (Chú thích của tác giả, khi đưa bài viết vào tập).
(**) Ngô Vưu (giáo viên Trường PTTH. chuyên Quốc Học, Huế) sưu tầm.


MỤC LỤC

1. Đọc thơ Nguyễn Công Bình. 7
2. Đọc thơ Võ Văn Luyến. 14
3. Đọc thơ Nguyễn Tiến Đạt. 23
4. Đọc thơ Phan Văn Quang. 33
5. Đọc thơ Nguyễn Tấn Sĩ. 41
6. Đọc thơ Võ Nguyên. 55
7. Đọc thơ Tần Hoài Dạ Vũ. 62
8. Đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. 77
9. Đọc thơ Hà Linh Chi. 94
10. Phụ lục:
- Một vài yếu tố trong sáng tạo & tiếp-nhận-đồng-sáng-tạo. 106
- Cảm thức lục bát. 108
11. Mục lục. 113
12. Danh mục tác phẩm của tác giả. 114.


Ghi chú để kỉ niệm:

Ngày 18 tháng 11 năm 2004
(07. 10 Giáp thân HB4)
đã gửi trọn tập bản thảo cho
bạn Y THI & anh HỒ THANH THOAN (Tạp chí Cửa Việt),
nhân dịp hai anh vào TP. HCM. công tác.

Một ngày khoảng cuối tháng 11. HB4 (10 Giáp thân HB4),
đã gửi INRASARA trọn tập bản thảo.

Cuối năm Giáp thân (đầu năm 2005),
tập bản thảo cũng được gửi đến PGs. Ts. HUỲNH NHƯ PHƯƠNG.

Ghi chú theo thủ tục:

N H À X U Ấ T B Ả N V Ă N N G H Ệ T P. H C M.
2 0 0 5
T Á C G I Ả G I Ữ B Ả N Q U Y Ề N
(Bản đã xuất bản có gác lại một vài đoạn ngắn)



Ghi chú về tác giả:
Trần Xuân An
Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;
Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);
Quê gốc: Quảng Trị;
Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978);
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;
Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu
(Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.).

1971, cùng bạn bè chủ trương tập san Đất Vàng, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), với bút hiệu Huyên Đình (Người Mẹ).
1973, “Tiếng chuông xưa” , bài thơ lãng mạn đầu tiên in trên Tuổi Ngọc.
1975, được tặng thưởng “Một trong mười bài thơ hay nhất trong năm” của báo Văn nghệ Giải phóng.
1991, giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị.

DANH MỤC
TÁC PHẨM, SOẠN PHẨM, BIÊN KHẢO
CỦA TÁC GIẢ
(tính đến 2005)

Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam:

1. Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap1.blogspot.com/
2. Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
3. Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
4. Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
5. Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
6. Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/
9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
10. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM.
http://www.giaodiem.com tháng 11-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:

13. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba).
Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com tháng 6-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
14. Thơ những mùa hương, thơ.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 10-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm

Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo:

17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003.
http://www.giaodiem.com tháng 8-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003. Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm

Địa chỉ:
71B Phạm Văn Hai,
Phường 3, quận Tân Bình
(cửa hiệu PHAN HUYÊN)
TP. HCM.
ĐT.: 08.8453955
& 0908 803 908
Email: tranxuanan_vn@yahoo.com


TRUY CẬP THÊM CÁC ĐỊA CHỈ WEBs/ BLOGs
(Xin bấm vào LINKs sau đây):

http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/

http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/

http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/

http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/

http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

HOẶC CÓ THỂ BẤM VÀO DÒNG CHỮ
WIEW MY COMPLETE PROFILE
Ở BẢNG ABOUT ME
ĐỂ ĐỌC NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC CỦA TÁC GIẢ
TRÊN WEBs / BLOGGER.


NGOÀI RA, CÓ THỂ TRUY CẬP THÊM
CÁC TÁC PHẨM SÁNG TÁC, KHẢO LUẬN, BIÊN SOẠN CỦA TÁC GIẢ
TRÊN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ GIAO ĐIỂM
(Xin bấm vào các đường LINKs sau đây):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm


Trân trọng và cảm ơn.
TXA.

NGẪU HỨNG ĐỌC THƠ (phần I)

TRẦN XUÂN AN
NGẪU HỨNG ĐỌC THƠ



Phê bình thơ


NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2005


Tp. HCM., 22 – 23 & 27.08.2003
(25 – 26 & 30.07. Quý mùi HB.3)

Thành phố Hồ Chí Minh
08 giờ sáng
ngày mười một tháng chín
hai không không tư
(hai mươi bảy tháng bảy Giáp thân
công nguyên Hoà Bình năm thứ tư)

Mười tám tháng mười một
Hai không không tư
(mùng bảy tháng mười
Giáp thân HB4)



Lời thưa

Ngẫu hứng đọc thơ sẽ ngẫu hứng với thơ của những người thuộc thế hệ đàn anh, thơ những bạn bè khắp nơi và thơ quê nhà Quảng Trị.
Ngẫu hứng đọc thơ?
Đọc hết lòng, vẫn chỉ dám gọi là ngẫu hứng.
Có điều, trong bạn bè cũng lắm người thơ; thơ bạn bè hay không ít. Đành nhắm mắt bốc thăm, quờ tay vào tủ thơ, kệ sách. Bạn bè trách chi Ngẫu hứng!


TXA.
18. 11. 2004
(07. 10 Giáp thân HB4).

Thêm vài dòng ghi chú về
LỜI THƯA


1. Đây chỉ là tập sách đọc thơ, thậm chí chỉ là đọc thơ một cách ngẫu hứng. Người viết cũng xin được tự giới hạn trong quan hệ thân quen ở quãng thời gian trước khi vào Tp. HCM. sinh sống (1991). Tuy chỉ trong giới hạn đó, tập sách vẫn còn thiếu sót một vài gương mặt thơ ca rất thân tình.
2. Chín bài viết trong tập sách này, tôi đã gửi đến chín người thơ, nhà thơ hoặc thân nhân (nếu người thơ, nhà thơ ấy đã quá cố). Tất cả đều trả lời là rất tán thành trong niềm xúc động về mối đồng cảm hoặc tri âm tri kỉ, duy mỗi một Võ Nguyên là tỏ bày ý kiến có phần khác. Võ Nguyên cho rằng bài viết của tôi về thơ anh có nhiều đoạn hay, nhưng vẫn còn có chỗ cảm nhận hơi chủ quan. Và riêng bài viết về thơ anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi gửi ra Huế, lại gặp dịp chị Lâm Thị Mỹ Dạ đưa anh đi chữa bệnh. Tôi lại gửi qua con gái anh, Hoàng Dạ Thư. Mãi đến ngày 16. 12. HB4, vào lúc 06 giờ 30, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, chị Lâm Thị Mỹ Dạ mới gọi điện thoại đến nhà tôi. Anh Tường bảo: “Viết về mình như thế là rất chính xác”. Liền ngay sau đó, vào lúc 10 giờ, tôi có đến gặp anh chị ở căn hộ CO2 /2 Chung cư 41 bis Điện Biên Phủ (sau chợ Văn Thánh), Bình Thạnh, Tp. HCM.. Anh Tường bảo lần thứ hai: “Không ngờ TXA. viết về mình rất đúng như vậy”.
Tôi vẫn nghĩ, đọc thơ (mạn phép xác định đúng thể loại: phê bình thơ) là một việc hết sức tế nhị, dễ động chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của trái tim người thơ, nhà thơ, nên đã trao đổi trước khi gửi đăng báo. Mặc dù theo thông lệ là không nhất thiết phải như thế, và hầu như ai cũng nhất trí với quan niệm thưởng ngoạn, phê bình nghệ thuật là đồng sáng tạo, nhưng dẫu sao, có trao đổi trước vẫn tốt hơn – không những tốt hơn về khía cạnh tế nhị là ít nhiều cũng phải động chạm đến tình cảm riêng tư trong thơ, mà còn tránh được sự sai lệch quá đáng trong cảm thụ. Cũng từ ý nghĩ đó, xin có vài dòng ghi chú cuối lời thưa như vậy.
Trân trọng và đồng cảm.


TXA.
Tp. HCM., 17. XII. HB4
(06. 11. Giáp thân HB4).

___________________________

Bài thứ nhất

ĐỌC THƠ NGUYỄN CÔNG BÌNH

1

Thơ đến với Nguyễn Công Bình từ tuổi học trò trên mảnh đất làng quê chôn nhau cắt rốn, và thơ trong tiếng giảng bài sau luỹ tre xanh ấy, lại dẫn anh đến với lớp văn trường chuyên ở tỉnh lị Nghệ An. Lên đại học, Nguyễn Công Bình cũng vẫn cùng thơ ca một nẻo ngữ văn. Đến lúc tốt nghiệp, ra trường, trừ đi khối lượng thời gian hành chính (không trực tiếp dạy văn), anh thực sự dấn mình vào nghiệp văn chương: làm báo, biên tập ở một nhà xuất bản. Thơ đến với Nguyễn Công Bình rất sớm, nhưng cuộc sống vốn có những ngã rẽ phân trí kì lạ, nên mãi đến năm ba mươi tám tuổi, anh mới trang trọng trình ra giữa đời tập thơ đầu tay: Người gánh bóng mình (1)! Sau đó bốn năm, lần này lại in chung với một nhà thơ khác, có cái tên rất con gái – Vũ Xuân Hương – , để Nụ và quả đến với đời (trong đó, phần thơ riêng của anh là Lời quả (2)). Rồi cũng với một quãng thời gian ấp ủ và sáng tạo ngắn thua thế chút ít, tập thơ thứ ba của Nguyễn Công Bình lại dày dặn hơn, cũng đã được cuộc đời chào đón với cái tên ngỡ rất bảng lảng, xa xăm: “Một người phía chân trời” (3).
Thơ thường được quan niệm mỗi bài là một chỉnh thể. Cho dù có nhà thơ đã cố ý chọn lựa để cho những bài nào đó phải đặt vào tập này chứ không phải tập kia, hoặc có người nuôi ý định sáng tác cả một tập thơ chứ không phải ngẫu hứng với từng bài riêng biệt, nhưng có lẽ phần lớn các nhà thơ, kể cả thi sĩ thiên tài, vốn xem mỗi tập thơ như tập hợp của một chặng đường thơ. Ở trường hợp thứ ba thường thấy ấy, những bài thơ kết thành từng tập, lại là kết quả của sự tương tác dọc một chuỗi tháng ngày giữa nhà thơ với cuộc đời, một cách hết sức tự nhiên nhi nhiên, hầu như không chủ định. Có điều, dẫu sao thơ vẫn là từng bài như riêng mỗi số phận.
Như vậy, phải thế này không, mỗi tập thơ của Nguyễn Công Bình là một chặng đường thơ của anh?
Nhìn ở khía cạnh khác, có nhiều nhà thơ đặt tên cho tập thơ của mình, có chữ với nghĩa hẳn hoi, nhưng thực ra vẫn với ý nghĩa “vô đề”. Và hình như các tên tập thơ của Nguyễn Công Bình, anh đặt theo quan niệm riêng. Có lẽ, đó là trường hợp ở giữa “vô đề” và “hữu đề”, nhưng đều được anh tự đề tựa bằng thơ hay viết bạt bằng thơ để gửi đến người đọc.

2

Người gánh bóng mình là tên khai sinh của tập thơ đầu tay và của bài thơ cuối trong tập. Bài thơ bạt ấy, vào năm 1993, Nguyễn Công Bình viết ngay ở dòng đầu:

Tôi gánh bóng mình đi. Kĩu kịt. Kĩu kịt.
Đòn tre chín dạn hư vô. Bóng tôi khi tròn vo, khi dài ngoằng ngoẵng.

Và cứ thế, “tôi gánh bóng mình đi” là điệp cú cho anh mở rộng tứ thơ, về với hoài niệm tuổi nhỏ có tóc mẹ trắng bến sông, có trăng vàng như trái thị cao vời không hái nổi, với tuổi trẻ có ánh sao thương nhớ phía người con gái nào đã xa. Và “tôi gánh bóng mình đi” còn mở rộng đến một bi kịch lịch sử ở nước Do Thái xa xưa đã được nâng lên thành tôn giáo. Điệp cú ấy mở rộng đến loại tình yêu “nào biết yêu gì? đành yêu hết thảy”! Rồi cứ thế, “tôi gánh bóng mình đi”, “bóng không bao giờ có tuổi” và không biết về đâu, cũng “xin đừng hỏi, về đâu?”, để kết lại, cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Công Bình như thể là khất sĩ hành đạo, “kẻ hành khất giữa chòng chành thiện – ác; kĩu kịt hành trang chiếc bóng mình”.
Bóng không bao giờ có tuổi, Nguyễn Công Bình đinh ninh tận đáy lòng mình như vậy. Từng có ẩn dụ, bóng là linh hồn Phao-xtơ (Faust), nhân vật khát vọng chân lí cõi đời của Gớt (Goethe). Cũng từng có ẩn dụ, bóng là người chồng đi lính thú biền biệt của Nàng Trương, họ Vũ, mỗi đêm hiện về trên phên vách. Ở nghĩa này, bóng là bản thể của “tôi” và ở nghĩa kia, bóng cũng là khách thể của “tôi”…
Nhưng làm sao không ngừng lại để đọc thật kĩ như bị hút hồn vào một bài khác, loại tứ tuyệt mới, có cái tên Vô đề, ngay trong tập thơ đầu tay này:

Có một người gánh bóng mình
Bóng đè gập nặng nề cất bước
Vực thẳm đầu, đại dương chân
Người gánh bóng nhoài lên phía trước.
1992

Bóng ở đây là tâm hồn và tài năng thi sĩ? Bóng là sứ mệnh, thiên chức nhà thơ do chính trái tim mình giao phó? Và nghiệp dĩ là phải gánh, trĩu nặng, khá kềnh càng, chứ đâu phải nhẹ nhàng hoặc nhỏ nhắn để có thể xách, cầm, đội, cõng hay vác! Nhưng trong thực tế, làm gì có bóng vừa ở phía trước mặt, vừa ở phía sau lưng, trên hai quang thúng (hoặc quang thùng) để gánh. Phải chăng một đầu, phía trước mặt kia là hư vô, một đầu khác, phía sau lưng này mới là bóng thật?
Suốt tập thơ gồm hai mươi tám bài, Nguyễn Công Bình đã cho cái tôi trữ tình trong thơ của anh bước đi từ một làng quê Hà Tĩnh, phía xứ bắc Trung bộ nghèo khó nhưng rất đỗi ân tình, với niềm đau bi kịch gia đình chia lìa giữa cha với mạ, để bước vào đời với thiên chức người gánh bóng mình, mặc dù vẫn dạy văn và công tác, ở một tỉnh cực nam miền Trung. Thuận Hải, nơi có những tháp Chàm thâm nghiêm trên đồi và bao cô gái Chàm ở bến sông lấp lánh nụ cười. Thuận Hải, với riêng Nguyễn Công Bình, là nơi có vài cuộc rượu với người bày quán sách ở đầu sân ga, nơi có một người bạn dạy học ở vùng Tánh Linh, vốn là tị địa của bao gia đình nghĩa sĩ Nam Kì thời Pháp chiếm, nơi có người bạn khác sống thu mình như cây tùng trong chậu kiểng… Bình Thuận, nơi Nguyễn Công Bình đã có mười lăm năm sống, cộng với hai mươi mốt năm trước đó ở nguyên quán Nghệ – Tĩnh, tuy vậy, thật sự anh chỉ chọn lại cho mình những bài thơ anh viết sau khi vào hẳn ở thành phố Hồ Chí Minh. Theo cách nói của anh, đó là “những câu thơ muộn mằn…”. Thơ Nguyễn Công Bình muộn mằn nhưng đậm đà như thơ và truyện ngắn Võ Nguyên, Đinh Đình Chiến, những người cũng gánh bóng mình ở Bình Thuận.

Mười lăm năm ngụp lặn công danh
Mình tự vả vào mồm chảy máu
Uốn éo dài lưng tập tành áo mão
Hồn lang thang tìm sóng Mịch La.

Mịch La, một dòng sông Trung Hoa, chốn trầm mình của Khuất Nguyên, nơi Nguyễn Du của Hà Tĩnh quê anh, trong một lần đi sứ, đã đau xót cám cảnh về bao con thuồng luồng nhai thịt người ngọt xớt, kể cả xương thịt của tác giả Ly Tao.
Đó là lời tự phê, phản tỉnh thành khẩn, quyết liệt của một bản lĩnh mạnh mẽ. Đó là cảm xúc cực độ, lúc cái tôi trữ tình trong thơ anh, cái bóng của chính anh, không phải méo mó như ở “Nhà cười” (tên bài thơ đầu ở tập đầu tay), mà đang nghiêm trang, thống thiết tự quyết định ngã rẽ cho đời mình. Tâm trạng ấy có nguyên nhân trong công việc hành chính. Phút giây ấy xảy ra khi một nguyên cớ ập tới: Nguyễn Công Bình đọc được dòng tin về người bạn khác nữa, đã rời nhiệm sở để ra Hà Nội học trường viết văn Nguyễn Du:

Mười lăm năm dòng tin gặp bạn
Bỗng dưng đêm sởn da gà
Văn chương nghiệp chướng nhập qua đời mình.

Nguyễn Công Bình tự đốn ngộ, với loé sáng xuất thần giúp anh tỉnh táo, thấu suốt, và tự chấp nhận gánh vác thiên chức làm một nhà thơ của cuộc đời. Sau mười lăm năm phải làm hành chính sự vụ, loại hình công tác mà theo tạng chất thi sĩ, anh cho là “uốn éo dài lưng tập tành áo mão”, Nguyễn Công Bình đã thật sự tìm thấy bản chất đích thực của anh, vốn hình thành từ lòng mẹ, từ tuổi học trò trường làng cho đến khi anh rời khoa ngữ văn dưới mái trường đại học? Hay anh viết thay một ai đó? Nhưng dẫu viết về ai cũng thể hiện cái tâm của chính nhà thơ Nguyễn Công Bình.
Nhưng, để hết mình cho thơ, từ đó, Nguyễn Công Bình vào thành phố Hồ Chí Minh làm báo.

3

Phần thơ Lời quả của anh trong tập tứ tuyệt in chung với Vũ Xuân Hương này, lại hầu như rất ít chất đời, chất thông tấn. Có lẽ một phần bởi thể thơ bốn câu phải hàm súc, nhưng đúng hơn, anh ngập vào chất đời, chất thông tấn đến nỗi muốn thoát ra khỏi chúng bằng thơ, để phiêu cảm mênh mang hơn, trầm tư sâu xa hơn, và do đó, chừng như lại xa cách thế thái nhân tình với bao nỗi niềm hiện thực. Đôi khi, thơ anh ngã tựa vào chất Thiền tông, “phùng Phật sát Phật”, để “kiến tánh thành Phật”, tự khai sáng nẻo đường “xông trời thẳm”, với nội lực toả ra từ “một tiếng kêu dài khiến lạnh cả bầu trời” trong thơ Lý – Trần. Phật (Budha) với anh, đúng như kinh điển Thiền tông, là người giác ngộ bản chất cuộc đời.
Khác với thơ Vũ Xuân Hương, tứ tuyệt phá cách, thoát sự gò bó của khuôn âm thước chữ nghiêm ngặt, tứ tuyệt của Nguyễn Công Bình thiên về niêm luật với nét đẹp cổ điển, kể cả tứ tuyệt ngũ ngôn, tam ngôn và tứ tuyệt lục bát, tuy câu chữ, hình ảnh bay bướm, gần gũi với đời thực hiện tại.
Không thể điểm hết tất cả những bài thuộc phần thơ Nguyễn Công Bình trong tập, nên Quả trở thành một nét nhấn đối với người cầm trên tay tập thơ này. Quả không phải tiêu biểu nhất cho kĩ xảo niêm luật của Nguyễn Công Bình, nhất là cho tài thơ tứ tuyệt của anh về cấu tứ, dùng từ, và sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ…

Về quả làm sao ngược lại hoa?
Thời gian ủ chín tháng năm xa
Đắng chát ngọt dần cho kẻ hái
Chắt hạt thành cây ai nhớ ra?

Nhưng cho dù Quả cố tình thoát niêm một cách tài tử (vốn phải là “ngọt dần đắng chát cho người hái”), Quả vẫn chứa đựng một ý tưởng đã thành niềm thơ trăn trở trong anh.
Ý tưởng ấy không phải là một phát hiện, một khám phá mới, bởi có gì gần với loài người hơn là hoa trái, nhất là trái ngọt mỗi mùa hạ và mọi người đều có thể thường dùng hằng ngày; đồng thời cũng không xa lạ gì ý thức gieo hạt thành cây, để cây ra hoa và lại cho trái. Nó gợi đến nòi giống truyền đời, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia. Ở cấp độ khái quát siêu hình, từ cổ đại, người ta đã nói đến luân hồi với chủng tử, công quả, nghiệp quả, quả báo, đặc biệt là hai chữ nhân quả. Nhân quả (nguyên nhân – kết quả) là cả một phạm trù triết học. Nhưng câu thứ nhất của bài thơ vẫn cứ là một niềm tiếc nuối vô vọng đến xót xa, còn câu khép lại bài tứ tuyệt vẫn là một lời tự vấn và nhắc nhở ai đó quanh mình một cách thành khẩn. Tuy vậy, có lẽ đúng hơn, ấy chỉ là Lời [của] quả, thiết tha và dịu ngọt, bởi như mọi nhà thơ khác, Nguyễn Công Bình nào dám lên mặt dạy dỗ ai. Ngay đại từ ai trong tiếng Việt cũng đã quá tế nhị rồi.
Lời quả đến ba mươi bài, và không chỉ duy nhất một nỗi niềm như thế. Lời quả tất nhiên phong phú hơn nhiều.
Lời quả gói hờ một chuỗi thời gian trên đường thơ anh.
Nguyễn Công Bình lại trở thành biên tập viên cho Chi nhánh Nhà Xuất bản Thanh Niên, và vẫn hoài vọng Một người phía chân trời.

4

Với tập thơ thứ ba này, Một người phía chân trời, nhan đề và tranh bìa, rõ ràng đã làm tỏ ý cho nhau (nếu không có sự bất đắc dĩ nào). Tranh vẽ bóng trắng một người nữ trẻ tuổi, mặc áo dài, thả tóc dài bay trong gió, nhìn về phía mặt trời lặn. Bóng dáng ấy in lên nền trời cuồn cuộn đầy những mây trắng.
Hơn thế nữa, Nguyễn Công Bình còn viết thủ bút bốn câu thơ ngay phía dưới tranh bìa bốn (tranh bìa một cũng là tranh bìa bốn, tuy kích cỡ không bằng nhau):

Phía hư ảo ráng mây chiều rực cháy
Lấp loá bạc vàng hay lả tả tàn tro?

Bạc vàng hay tàn tro? Để cảm thông niềm thơ, cần phải đọc những bài thơ trong tập, nhất là bài gần như khúc ca chủ đạo của tác giả: “Không đề phía chân trời”.
Thế là lại một lần nữa, Nguyễn Công Bình vừa “vô đề”, vừa “hữu đề” như ở tập đầu tay, nhưng theo một cách khác!
“Không đề phía chân trời” là một bài thơ văn xuôi. Trong đó, anh viết: “Phía chân trời một người đi trong lòng giấu sóng đại dương”. Hoá ra, nhìn về phía chân trời trong tứ thơ của mình, trước tiên, Nguyễn Công Bình thấy “chiều ngõ quê mềm chảy tóc em hương”. Nhìn tiếp phía chân trời, bỗng thấy trái đất chỉ là quả bóng đá, kiếp người chỉ là ánh sao băng trong chớp mắt, và lại băn khoăn về mọi “ganh đua, lường gạt, bạo tàn”! Phía chân trời còn là màn hình vô tuyến, trên đó hiện lên một “châu Phi đói khát”, “sa mạc trắng băng tang thắt ngang trái đất; trên những nấm mồ cát nhoá vụn bánh mì nhân ái vật vờ bay”. Phía chân trời, đô-la-bom giết người và đô-la-thuốc cứu người chênh lệch nhau triệu lần, nhân quyền sơn phết cho cái ác, “tiếng thét đau thương va tiếng cốc ăn mừng”. Phía chân trời, ở nơi đâu đó, “máu nhân dân ngập trận cờ lừa”, “chim di trú trời xa còn nhớ cội tìm về”. Và cuối cùng với dấu chấm lửng, “thiện và ác vẫn song hành giữa yêu và ghét; trái đất vẫn trần xoay trong tro bụi ngọc ngà; vô định quá…”, phía chân trời trong thơ anh!
Phía chân trời trong thơ dữ dội hơn trong bức tranh bìa nhiều lắm. Và biết đâu, ngầm chứa sự dữ dội như trong truyện ngắn An-đec-xen (Andersen), cái bóng y hệt người hầu da đen châu Phi nô lệ, một hôm nào lật ngược thế cờ lịch sử – thân phận trên thế giới: người da đen làm chủ, cái bóng da trắng phải vật vờ theo sau gót như một gã bồi hạ đẳng. Có điều, không phải là phép hoán đổi vị trí, quyền lợi hưởng thụ tầm thường, nhỏ nhen, mà phải bằng cách mạng, nhân nghĩa và bình đẳng.
Nguyễn Công Bình ở chặng thứ ba đường thơ của anh, anh vẫn tiếp tục gánh bóng mình, có điều bây giờ gần như tất cả đã bị hư vô hoá, bởi hệ giá trị đã bị đánh tráo (thật – giả; xấu – tốt đều đồng nhất). Anh “Tự bạch”:

Chòng chành trĩu gánh hư vô
Dở khôn – dở dại; bên khô – bên lầy
[…]
Mặc hoàng hôn, kệ bình minh
Ngày nương bóng phố, đêm vin bóng mình

Cái bóng của Phao-xtơ, của Nàng Trương, – hiểu như biểu tượng, làø tâm hồn, là hi vọng của anh –, cái bóng ấy chỉ trở về được (chỉ tìm lại được), khi anh còn lại là chính mình trong đêm với ngọn đèn khuya khoắt. Có điều, năm nào anh còn ngã bóng cho người vợ hiền râm mát, nay anh phải nương vào “bóng phố” để tồn tại bơ thờ, lơ đãng, “ấm ớ”, “vu vơ”…
Mặc dù Một người phía chân trời là tập thơ nghiêng về đời sống phố phường với những cảm xúc hiện tại, nhưng hoài niệm ngọt ngào, ám ảnh thảng thốt vẫn thi thoảng hiện về, dậy lên. Hơn cả thảng thốt, đây là ám ảnh về một sự thật khủng khiếp, khủng khiếp vì oan khốc của những đồng chí kháng chiến trung kiên, khủng khiếp vì sự tha hoá của cô bé gái tuổi trăng rằm do khái niệm “giai cấp”, “nguồn gốc xuất thân” bị đóng khuôn một cách “siêu hình”, thiếu biện chứng, phi hiện thực:

Đường đi tới nửa chừng cơn xoáy lốc
Liềm, búa, trống, chiêng… lửa bốc rừng người
Cô đội tuổi rằm chanh chua giọng thét
Máu đồng chí trung kiên phun dấu hỏi lên trời
Ngàn tiếng rủa, một cõi lòng tan nát
Mẹ quỳ khóc bóng cha thất thểu tù đày…
Ờ chuyện cũ vết thương giờ kín rịn
Gội lỗi lầm, lịch sử thắm ngời son
Chuyện người vô vi, chuyện mình thiền định
Cha bạt núi, dựng nhà, cắn trắt, nuôi con…

Thời tuổi nhỏ của Nguyễn Công Bình và của người vợ đồng hương có một ám ảnh về nỗi đau thương, oan khuất. Theo lời anh kể, cho dù đã thuộc về quá khứ xa xăm, nhưng hình ảnh cô trưởng đội đấu tố “chanh chua giọng thét”, người cha vợ Phan Trường Lưu phải chịu tù đày, đồng chí kháng chiến của ông bị xử bắn bởi thành phần xuất thân, trong thời kì cải cách ruộng đất, vẫn đôi khi lại trở về trong trí nhớ anh, nhưng đã được phủ lên một màu sắc “vô vi”, “thiền định”, và hơn thế nữa, “gội lỗi lầm, lịch sử thắm ngời son”. Có lẽ một chút diễn giải như thế là quá thừa, nhưng thật ra rất cần thiết trong cảm thụ. Hình như người đọc không thể lướt qua, bởi suốt cả tập thơ, duy nỗi ám ảnh thảng thốt ấy đã đậm lên chất bi kịch xã hội, ở bài thơ đó – “Có một chữ nhân” – , trong khi ở các bài thơ khác, những cảm xúc khác, dung lượng phản ánh khác, chỉ đằm sâu hoặc nhẹ nhàng, thoang thoảng.
So với tập đầu tay, hai tập sau nhiều chất thị thành hơn. Tâm hồn Nguyễn Công Bình đã thay đổi khá rõ nét, và có thể nói, ngay cả hoài niệm quê nhà, nơi thường trú cũ, ngỡ không bao giờ thay đổi trong kí ức, cũng hiện về trong anh với màu sắc, ánh sáng khác. Chẳng hạn, mười lăm năm Phan Thiết – Bình Thuận lại về một lần nữa trong thơ anh:

Níu giùm chớp bạc thời gian
Mười lăm năm ấy gian nan phận người
Tha hương chao chác nỗi đời
Vịn thơ mà bước chơi vơi tháng ngày
Nợ lòng Phan Thiết thơ vay
Gỡ ra lại thắt, đau hoài trăm năm!

Đặc biệt, ở tập thứ ba, từ câu chữ cho đến cảm xúc của nàng thơ trong thơ Nguyễn Công Bình đã ngày càng bay bướm, phóng túng, ảo thuật hơn (làm xiếc ngôn từ nhiều hơn), nhưng vẫn tạo cho người đọc cảm giác tiêng tiếc thế nào đó, như thể Nguyễn Bính năm nào đã viết về một cô gái nông thôn hồn hậu, chân thành, một hôm ra phố về, chợt nhận thấy: “hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều”! Biết làm thế nào được, một khi làng mạc, nông thôn bây giờ cũng đang thành thị hoá.
Vẫn hi vọng ở tập thơ tiếp, nàng thơ (một hình ảnh ước lệ!) của Nguyễn Công Bình lại nền nã một vẻ đẹp thị thành.
Nguyễn Công Bình vẫn tự nhận mình là một người đa mang, đa tình. Anh yêu thương và căm giận, âu lo và bức xúc, luyến tiếc và bực bội trước bao loài cỏ cây hoa lá, nhiều dạng người, lắm cảnh huống. Anh không phải là một nhà thơ chuyên nhất về một đối tượng thẩm mĩ. Rất khó để gò khuôn thơ anh vào một vài đề tài với tần số cảm xúc nhất định. Rõ ràng, mỗi tập thơ của Nguyễn Công Bình chỉ là một chặng đường thơ của anh.
Tất nhiên, dẫu thế, vẫn có thể nhận ra những nét chủ đạo trong thơ Nguyễn Công Bình. Tuy nhiên, phải đợi đến lúc nào rõ nét hơn.

5

Cuối bài viết, tôi muốn ghi lại một chút cảm xúc có thể gọi là kỉ niệm thơ ca với một bài thơ như một chỉnh thể riêng biệt trong thơ anh.
Cuộc sống vẫn luôn có những tình cờ đáng nhớ, nhất là với bao người làm thơ luôn luôn chắt chiu hoài niệm. Một trong những tình cờ ấy của tôi, là gặp lại Nguyễn Công Bình sau lần gặp đầu tiên, cách đây hai mươi sáu năm (nếu không kể giữa chuỗi thời gian đằng đẵng đó, có một lần thoáng vội). Thuở ấy, 1977, chúng tôi còn là sinh viên năm thứ tư đại học sư phạm, anh học ở Vinh, tôi học ở Huế. Hai khối lớp kết nghĩa của hai trường kết nghĩa càng thắm thiết, khi lớp chúng tôi có một chuyến ra Vinh tham quan. Bấy giờ, lớp ngữ văn của tôi đã có hai cô sinh viên ở Vinh chuyển trường vào Huế học. Hơn hai mươi sáu năm sau, lúc này, khi đọc thơ anh, quả thật, tôi ngạc nhiên, cứ ngỡ đoá hoa hồng màu xanh mảnh mai, bé nhỏ, gầy guộc thuở bấy giờ là người yêu của Nguyễn Công Bình! Có phải vậy không? Sao mãi đến bây giờ anh còn bâng khuâng hỏi đoá bích hường ấy, như một chàng trai trong ca dao?

Bậu còn nhớ Huế chiều mô
Ta đi tìm bậu tím bờ sông Hương?
Tình chi hương ngát ngày thường
Trắng trong bậu hái bông Hường, tặng ai...

Riêng về thơ, thoáng “hương đồng cỏ nội” ấy thật đáng yêu biết bao.
Có điều, tôi và mọi người ít nhiều quen biết anh, đến lúc này vẫn hiểu chắc chắn đoá hường xanh và Bình chỉ là bạn thân, trong veo tình nghĩa. Nhưng tại sao đọc bài thơ kia, không một ai không ngộ nhận, cứ ngỡ là họ đã yêu nhau, nhưng rồi phải chia tay, và đã chia tay bao nhiêu năm vẫn quan tâm đến đời nhau một cách rất chân tình, trong sáng. Nhưng cũng như nhà thơ Nguyễn Công Bình, tôi cũng tự hỏi, phải chăng đoá bích hường và chàng trai trong ca dao kia, đã được thi ca nâng lên đến mức trở thành hình tượng nghệ thuật, để không còn là đoá hường, là Bình trong đời thực? Phải chăng đây là trường hợp nhà thơ bị chính thơ ca hớp hồn, lôi kéo, dẫn dụ một cách vô thức? Tôi muốn tập Kiều để minh oan hộ Nguyễn Công Bình và đoá hường xanh:

“Thơ đưa lối, nhạc dẫn đường
Lại tìm những nẻo bất thường, đôi khi”.

Đây chỉ là trường hợp “đôi khi”, vô thức ngoại tình trong thơ và chỉ trong thơ, mà ngay cả tác giả cũng không ngờ!
Có điều, tôi vẫn muốn vừa tinh nghịch, vừa lãng mạn cảm nhận theo hướng ngộ nhận kia: Bình đã hoá thân thành chàng trai trong ca dao, còn cô bạn (nay là tiến sĩ) đã hoá thân thành đoá hồng xanh, và quả thật, giữa họ đã từng có một tình yêu thiết tha, trinh bạch. Lúc này, biết rằng họ không còn trẻ nữa, tôi lại hình dung: Chàng trai trong ca dao và đoá hường xanh ấy hẳn mong sao độ chênh, quãng cách giữa nỗi niềm thơ ca (chút ngoại tình “hồn bướm mơ tiên”) với đời thực bình thường (phải giữ đúng tình bạn đơn thuần), mãi là niềm khắc khoải khôn nguôi, thôi thúc phải vươn lên mãi, giữ mãi sự đúng mức, cho dù phải qua thác, qua ghềnh, để hướng tới chân trời hừng đông, trong thơ và trong đời.
Tuy nhiên, tôi vẫn biết, đó chưa phải là niềm khắc khoải cao quý hơn, tuy vẫn khôn nguôi, vẫn vốn dĩ và phổ quát, khi sống trong độ chênh, quãng cách giữa lí tưởng thơ cao quý với đời thực bình thường, thậm chí tầm thường. Niềm khắc khoải chân chính ấy bảo chúng ta luôn biết tự vấn, và bảo người gánh bóng mình hết vượt lên đỉnh dốc này lại phải nỗ lực tiếp tục vượt lên đỉnh núi khác, trên hành trình sống và hành trình thơ.

Tp. HCM., 22 – 23 & 27.08.2003
(25 – 26 & 30.07. Quý mùi HB.3)
TRẦN XUÂN AN

(1) Người gánh bóng mình, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 1994.
(2) Nụ và quả (in chung), Nxb. Thanh Niên, 1998.
(3) Một người phía chân trời, Nxb. Thanh Niên, 2001.

Đã gửi:

1.Nguyễn Công Bình (ngay sau khi viết xong, 2003)
2. Võ Văn Luyến (12. 9. 2004)
3. Inrasara (12. 9. 2004)


______________________

Bài thứ hai

ĐỌC THƠ VÕ VĂN LUYẾN

1

Tôi cứ mãi bâng khuâng khi tìm đọc lại tập thơ đầu tay của Võ Văn Luyến. Điều đầu tiên tôi trực nhận ra cách đây đã hơn một năm, Võ Văn Luyến cũng như một số người thơ khác, hoàn toàn không phải ngẫu hứng khi chọn tên cho tập thơ đầu lòng, tập thơ gồm gần bảy mươi bài thơ anh đã cưu mang, trải lòng với bạn bè, người đọc trên nhiều trang báo suốt hai mươi năm qua: Trầm hương của gió (1). Trực nhận ấy đến lúc này, khi muốn chia sẻ với anh qua những dòng chữ của một bài viết, tôi không thể không nhớ lại dăm câu thơ, đoạn thơ trong tập.
Ở bài thơ Trầm hương, Võ Văn Luyến thể hiện cảm xúc của tâm trạng thường thấy nơi sâu thẳm của trái tim nhiều người, khi về lại một làng quê, làng quê ấy lại chính là mảnh đất đã cho anh tình yêu và chứng kiến trong anh niềm đau rạn vỡ, hối tiếc. Sau rất nhiều năm tháng, người thơ cứ mải mê tìm về kỉ niệm.

Quê kiểng Hoàng Anh chạm ngõ
Chút gì như thể mùa thu
Hối tiếc một thời rạn vỡ
Tình đây, người đã xa mù

Tìm giữa vườn xanh mắt thẳm
Hỏi hoa mấy độ đơm bông
Hỏi tình ngây thơ vụng dại
Buồn nghe lặng tiếng trầu không

Ngẩn ngơ anh về thả gió
Trầm hương kí ức ngút trời
Nỗi niềm mang mang hoa cỏ
Lòng chiều sương khói xa xôi.

Với ý định chỉ trích dẫn đôi ba dòng, nhưng bài thơ Trầm hương của Võ Văn Luyến chỉ vỏn vẹn 12 câu, lại rất khó lòng gạn bớt. Điều ngăn tôi đừng gạn bớt, đó chính là hình ảnh “anh về thả gió / trầm hương kí ức ngút trời…” ở đoạn kết của bài thơ. Không phải là hoài niệm, hối tiếc về những gì trót đã trôi qua nhưng hiện tại vẫn còn có cơ may lại gắn bó, chuộc lại lỗi lầm xưa! Quả thật, giữa đời này có bao niềm đau, ân hận trong kí ức của trái tim vẫn chỉ là niềm đau, ân hận, cho dù cơ may còn đó. Ở Trầm hương, chừng như người thơ về thắp một nén hương trên nấm mộ người yêu dấu xưa. Vĩnh viễn không còn cơ may nào nữa!
Tuy thế, tôi vẫn tìm một cách tiếp cận tứ thơ trong Trầm hương khác hẳn như cảm nhận ban đầu. Tự nhủ với chính mình, ai bảo gió trầm hương kia không phải là thoang thoảng hay ngút trời trầm hương ngày Tết? Chiều ba mươi, đêm giao thừa và những ngày nguyên đán không gian quanh ta chẳng ngan ngát, bảng lảng khói trầm hương là gì. Và cũng tự nhủ, ai bảo mùa thu thực tại không là mùa xuân kỉ niệm trong kí ức? Cũng đâu hẳn tiết trời thực tại lúc người thơ trở về chắc hẳn là mùa thu! Rõ ràng là “chút gì như thể mùa thu”, như thể mùa thu chứ không phải mùa thu! Và như thế, cõi xa mù nào đó trong bài Trầm hương cũng chỉ là một phố phường, làng quê nào xa lắc đó thôi. Cõi xa mù ấy không phải là nơi mà lòng người chỉ có thể giao cảm bằng những làn khói trầm hương khấn niệm.
Với cách tiếp cận thứ hai này, tôi cảm thấy ấm lòng hơn; và hình như nhờ Trầm hương của gió, tôi nhớ về trầm hương nguyên đán tháng giêng, cho dù mãi mãi chỉ còn trong kỉ niệm về người yêu dấu xưa.
Thơ Võ Văn Luyến có những bài nhẹ nhàng như có như không mà gợi mở nhiều chiều, lại thấm thía như thế. Anh không cầu kì, lập dị trong cảm xúc thơ. Thơ anh cứ từ tốn hiện lên trên trang giấy với những gì rất gần gũi, hầu như ai cũng một lần đã trải qua. Nhưng thơ Võ Văn Luyến cũng níu gọi người đọc. Tôi không thể ngừng lại cảm xúc có chút gì như thể khám phá thế giới thơ trong anh.
Lại gặp một lần nữa hương và trầm ở bài Thơ vui viết lúc buồn. Thật ra, niềm vui được hồi tưởng qua tâm trạng không những không vui, mà chừng như cũng không phải buồn bã. Nỗi buồn xen lẫn niềm hi vọng chăng? Cũng không phải là niềm hi vọng mãnh liệt.

Anh mường tượng lúc trở về
Chút đồng nội còn ngậm hương sắc áo
Trời đầy mưa, lòng mong tạnh ráo
Dấu môi xưa toả sáng tình trầm

Một đoạn thơ tươi sáng niềm hi vọng về tiếng gọi mùa thu dịu nhẹ dưới vòm trời không ướt sũng mưa! Hương không còn là mùi trầm, rõ ràng là hương đồng nội, nhưng môi người yêu dấu xưa vẫn phải lưu dấu xưa để toả sáng tình yêu thơm ngát mùi trầm. Sao vẫn là mùa thu, vẫn mùi trầm trong hương đồng nội? Tâm hồn Võ Văn Luyến mãi mãi nguyên đán với chút tình đầu chăng, cho dù tuổi chớm thu?
Hay tình trầm là khối tình cô đặc như trái tim nghệ sĩ Trương Chi trong cổ tích, nhưng không phải là khối tình trầm tuyệt vọng mà ngát thơm hạnh phúc trong hi vọng?
Thơ Võ Văn Luyến biết dừng lại để mời gọi đồng thời mở ra những nẻo đường của tưởng tượng thơ.
Và lại hương cùng trầm, nhưng ở bài Nắng trong mưa, vốn được đặt trước bài trên, là một từ ghép với một ngữ nghĩa nhất định. Lần này, không thể không gạn đi dăm câu có hình ảnh với ngôn từ sáo cũ, để còn lại một trong hai đoạn thơ đẹp nhất bài:

Buổi chiều ru tôi
Bằng xa xôi trầm hương của gió
Cơn gió ướt sũng thị thành
Làm sao hong khô tháng ngày cỏ mật

Đó là cuối chiều ở một ngõ phố, hẻm phường nào đó, nắng úa rơi theo mưa từng giọt, lóng lánh. Người thơ vẫn lắng nghe và đón nhận trầm hương của gió một thuở xa xôi, từ làng quê xa xôi. Lòng người thơ vẫn là kỉ niệm tháng ngày cỏ mật đồng nội, mà thị thành hoá ra là lực cản, một lực cản sũng nước!
Nếu tập thơ khép lại với hình ảnh trong cụm từ nguyên vẹn này: “Trầm hương của gió”, chúng ta cũng có thể hình dung và cảm nhận được tâm hồn và thế giới thơ của Võ Văn Luyến. Tuy vậy, tôi thấy cần phải chia sẻ với anh nhiều hơn, dẫu biết rằng, cho dù anh viết về cha mẹ, về anh chị, về đứa em út non yểu, về vợï con, và về Huế, Hà Nội hay về Mỹ Thuỷ của Quảng Trị quê nhà, cho dù anh viết về bạn bè, hay về Rembrandt, về O’Henry, hình như tâm hồn Võ Văn Luyến vẫn chỉ có thể thể hiện ra trang giấy với mùi trầm hương của gió.
Trầm hương của gió, mùi của tâm linh giao cảm với ai đó không còn nữa trên đời?
Trầm hương của gió, mùi của tâm linh giao cảm với nghìn xưa mênh mang trong dăm ngày Tết nguyên đán rực rỡ?
Trầm hương của gió không chỉ thế.

2

Tôi ngần ngại khi bày tỏ chút liên tưởng có vẻ xác thịt, phù hoa này: Trầm hương của gió, mùi hương liệu gợi lên niềm tinh khiết trong giọt nước hoa, thứ nước hoa vốn đã làm giảm bớt tính xa hoa, kiêu kì, kích thích? Mùi hương liệu trầm trong viên xà phòng chỉ để làm ngát thơm da thịt thiêng liêng?
Thơ viết về tình yêu thời trai trẻ của Võ Văn Luyến không ít, nhưng anh rất ít viết về nụ hôn nồng cháy, cảm giác rạo rực của phút tay chạm vào tay, của ánh mắt lướt vội qua vòm ngực thanh nữ tròn đầy, xinh đẹp đến bàng hoàng, ngây ngất. Đúng hơn, Võ Văn Luyến có cảm nhận, nhưng cảm nhận tình yêu với xác thịt trầm hương thanh khiết.
Mỹ Thuỷ, một vùng biển quê nhà Quảng Trị, với Võ Văn Luyến:

Cái tên đẹp như nàng tiên cá / Trong truyện cổ tích / Đêm đêm / Nàng hiện ra trên thảm cát / Lặng nghe con sóng xô bờ / Lặng nhìn những vì sao đổi chỗ / Những nụ hôn xẹt thành vệt sáng / Mông lung thiên hà khát vọng / Bỗng yêu hơn mặt đất con người / Mỹ Thủy… // … Những chiếc phong cầm xanh / Tấu khúc hoan ca ngày họp mặt / Cầm tay nàng tiên cá rót mật / Vào bài thơ Mỹ Thuỷ yên lành.

Người yêu dấu hoá ra chỉ là nàng tiên cá cổ tích! Nụ hôn không phải nồng nàn, đắm đuối, mà cuống quýt, chỉ dám vội vàng như vì sao băng bay xẹt ngang trời, cho dù niềm khao khát là cả thiên hà. Cái cầm tay không rạo rực, nóng bừng, mà chỉ là nâng lên bàn tay người yêu dấu để rót mật vào thơ cho một vùng quê biển yên lành, sau rất nhiều tháng năm nơi ấy máu đổ, súng bom gào thét.
Và một cửa biển khác, trên đất Thừa Thiên – Huế: Thuận An.

Biển Thuận An đầy gió
Thổi vơi dáng toạ Thiền
Vầng trăng trong lồng ngực
Vuốt đường cong thiên nhiên

Biển vô ưu quá thể
Nụ hôn xẹt ngang trời
Miên man mai xa Huế
Cổ tích lùa vào tôi.

Tôi cam đoan rằng, Mỹ Thuỷ và Thuận An trong Võ Văn Luyến là một, nhưng với Thuận An, người thơ trong anh táo bạo hơn. Người thơ thấy gió Thuận An mặn mà đến mức cõi đời bị thổi vơi mất những dáng người toạ thiền với quyết tâm đạt đến chiùnh niệm, xua tan nhục dục. Tuy vậy, với người thơ, vầng trăng không phải trên lồng ngực, mà trong lồng ngực. Trước khi “vuốt đường cong thiên nhiên”, trái tim phải thật sự toả sáng như vầng trăng. Và vì thế, biển dạt dào như muôn đời vẫn dạt dào vỗ sóng, nhưng vẫn vô ưu trước những nụ hôn phớt nhanh trên đôi môi nồng thơm, trên gò má ngan ngát của người yêu dấu.
Đó là trầm hương của gió, nụ hôn của gió, vuốt ve của gió, trong thơ Võ Văn Luyến.
Võ Văn Luyến còn viết Tình ca mùa đông. Trong bài thơ lục bát này, vẫn là vầng trăng tỏ và nụ hôn nồng, nhưng không còn là ẩn dụ kín đáo:

Biết rằng tôi đã mất em
Sao tôi / Vẫn sống cái đêm bắt đầu
Cái đêm trăng tỏ chân cầu
Nụ hôn cháy đến mai sau không tàn
Cái đêm / Những tưởng đa mang
Với thời gian / Với không gian / Cồn cào
Cái đêm / Lặng lẽ nhìn nhau
Cao xanh chấp chới nghìn câu nên vần
Thôi em / Từ tạ ngày xuân
Hoa mơ rã cánh phù dung sớm chiều…
… Rồi ra / Cũng một lần thôi
Nồng nàn như rượu / Say rồi lại quên…

Lục bát là thể thơ đầy thách thức. Tuyệt vời lục bát, nhưng khó khăn nhất vẫn là lục bát. Võ Văn Luyến bị vần lục bát níu vào khuôn sáo ở một đôi câu, nhưng tình thơ anh rất thật, thật trong một lần trót lỡ môi nồng, trót lỡ mắt ngọt, nhưng cũng thật trong ý thức trách nhiệm. Và anh càng thật khi thú nhận, hoá ra đó chỉ là nụ hôn của tình yêu ngỡ bền lâu, chung thuỷ, ngờ đâu như đóa hoa phù dung chóng úa!
Lần này, Võ Văn Luyến không còn nói đến trầm hương, anh nói đến rượu. Không phải rượu suông. Đúng là rượu nồng nàn. Ai đó say rồi quên, còn anh mãi nhớ. Nỗi nhớ trong anh cũng là trầm hương, làm thăng hoa một lần phạm tục và một đời phàm tục.
Võ Văn Luyến có một bài thơ với tứ thơ đã khá quen thuộc đối với nhiều nhà thơ Quảng Trị: Đi bên dòng sông tình sử. Riêng về đề tài này, anh viết không mới hơn, hay hơn hoặc sâu hơn, nhưng vẫn rất đáng trân trọng. Điều đáng trân trọng ấy là ý tưởng sâu kín ở ngoài bài thơ: Có gì đáng yêu hơn khi người yêu là cô gái quê nhà có cảm xúc gắn liền với tình sử quê hương, chứ không phải vay mượn từ văn hoá nước ngoài.

Thì đã yêu con sông khi đi bên em
Anh hoài cảm về cô lái đò ngày xưa ấy
Nước vẫn chảy bèo vẫn trôi
nhưng hình hài trái tim ở lại
Đập nhịp rộn ràng

Dẫu bao lần đến hẹn sang ngang
Cứ ngần ngại dòng sông nước chảy
Con đò trầm chìm một đời con gái
Có thể nào lặp lại trong nhau?…

… Cơ chi trời thắp nắng mãi mùa đông
Em ngồi kể mối tình xa xưa ấy
Rồi doạ dẫm: Nếu anh yêu thế đấy
Em sẽ làm con nước biếc nguồn trong!

Không phải con đò bằng trầm hương. Con đò dân dã đã trầm mình, chìm luôn một đời cô thôn nữ lái đò ngang tuyệt vọng, nông nổi quả quyết tự trầm mình! Nhưng cho dẫu nước chảy bèo trôi, trái tim Trương Chi trong lồng ngực cô gái lái đò xinh đẹp mãi mãi còn lại trong thơ. Cô gái Quảng Trị như anh viết, “duyên tơ một ngày thương đau trắng tóc”, còn chàng trai sĩ tử vác lều chõng vào kinh đô dự thi kia cứ vô tình biền biệt! Và anh còn bào chữa cho cô gái quê nhà nhẹ dạ, cả tin mà nặng tình, trọng tiết nghĩa, “nghĩa thương yêu, tội tình gì đâu / đa cảm thế, dễ dàng chi quên được”. Rõ là chất nhà thơ trong anh đã lấn át chất nhà giáo nghiêm khắc, tỉnh táo cũng ở trong anh.
Tôi cứ tiếc là Võ Văn Luyến không vượt được bốn câu lục bát ca dao tình sử:

Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cộ (:cũ) con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn lưa
Đò xưa sớm thác, người xưa chưa về! (2)

Dẫu sao, Đi bên dòng sông tình sử của Võ Văn Luyến vẫn thoang thoảng trầm hương tình sử quê nhà Quảng Trị. Giá như cô gái Quảng Trị nào cũng chung thuỷ với lời hẹn ước như thế nhưng không nhẹ dạ, cả tin và nông nổi đến thế.
Cũng về tình sử, nhưng tình sử Phong Châu, nơi có thành Cổ Loa và nỏ thần, có mối tình oan khốc Mỵ Châu. Một Mỵ Châu được Võ Văn Luyến gọi là nàng Mỵ (nguyên văn của anh là Mỵ nương với chữ nương không viết hoa). Một trái tim người nữ bị tên giặc Triệu – Hán gián điệp lôi vào mưu kế cướp nước. Một lưỡi gươm oan nghiệt của An Dương vương đã vung lên và người con thương quý đã chết, chết cái chết của kẻ phản quốc. Một khối trầm hương màu đỏ tía (hay khối trầm hương chết?) đã được nhân dân tạc thành tượng công chúa cụt đầu để nghìn năm, muôn đời mãi nhớ. Một kẻ gián điệp cướp nước nhưng không bội tình tự kết án trầm mình xuống Giếng Ngọc. Có điều rất lạ là Võ Văn Luyến dùng chữ trầm với hai nghĩa. Thật ra, trong chữ Hán, chỉ có một chữ trầm mà thôi. Trầm là chìm, là sâu kín. Cũng mặt chữ Hán ấy, trầm phải đi đôi với hương để thành từ ghép chính phụ trầm hương, có nghĩa là loại gỗ hương liệu bỏ vào nước thì chìm. Ta quen gọi tắt là [gỗ] trầm. Tên giặc Triệu – Hán tự kết án chết trầm mình và hoá thành “khối tử trầm” trương nước Trọng Thuỷ bên “khối tử trầm” cụt đầu nàng Mỵ? Điều rất lạ còn là Bạch Mã – Hải Vân hùng quan, chứ không phải là đèo Mộ Giạ (Mụ Giạ), nơi An Dương vương cùng đường, và cũng là nơi An Dương vương biết rõ Mỵ Châu cũng là một thứ giặc ngồi sau lưng! Điều rất lạ ấy phải chăng là lòng anh muốn bao dung đến mức chiêu tuyết cho cả Trọng Thuỷ gián điệp, và cải biên huyền sử để tôn thờ cả chú ngựa trắng (Bạch Mã), vốn là “chứng nhân” duy nhất của bi kịch cha giết con vì con là giặc phản quốc ấy?
Lại rất tiếc là Võ Văn Luyến chưa thật thành công trong thể lục bát ở bài Chiêu tuyết khối tử trầm này. Nếu ở những bài khác anh thành công, đây là bài thứ hai (gồm bài Tình ca mùa đông ở đoạn trên), anh bị vần và nhịp thơ lục bát (một thể thơ tuyệt vời nhưng đầy thách đố) níu vào khuôn sáo, cũ mòn về ngôn từ, hình ảnh.
Trong thơ Võ Văn Luyến còn có chút gì xao động của trái tim, nhưng không hẳn là cảm xúc – tâm hồn yêu đương, càng không phải là cảm giác – da thịt yêu đương.
Rõ ràng không chỉ khép lòng lại với quê nhà Quảng Trị, người thơ đã mở rộng lòng mình ra đến những vùng đất xa trên đất nước. Đó còn là Hà Nội, chút duyên đến từ một câu thơ hay, đưa đẩy tới một lần đi dạo cùng nhau dưới hàng cây sấu, và Hà Nội qua một giọng hát học trò. Đó còn là cô gái Cần Thơ thoáng gặp ở Huế. Không phải là tình yêu đương, cơ chừng là những giây phút đa cảm, lãng mạn mơ hồ.
Có thể những thi thoảng ấy cũng là trầm hương của gió, toả ra từ chính khối trầm kết tinh trong ngực anh, phập phồng, co thắt – rộng mở, để tâm hồn anh luôn hồng tươi máu ấm? Tôi nghĩ đến tình yêu con người trên những miền xứ sở đất nước, bất chợt người thơ phản ánh ra ở từng dáng dung cụ thể nào đó và đồng thời bắt gặp lòng mình ở từng dáng dung cụ thể ấy.

3

Mở tập thơ Trầm hương của gió ra, chúng ta còn thấy những bài thơ về những tình cảm ruột thịt, thân thương. Út ơi! Đó là tiếng gọi thầm thì thương nhớ, cũng là tên một bài thơ. Hình ảnh người cha cặm cụi bên chiếc máy may từ sớm cho đến lúc dĩa dầu hao khô, từ tuổi trẻ cho đến lúc mắt mờ, tay run trước đường kim mũi chỉ, hình ảnh người mẹ từ thời thôn nữ trăng rằm đến tuổi già xế bóng vẫn một nắng hai sương cấy gặt trên đồng, chợ chiều chợ sớm, khiến lòng ta chùng lại, và càng nghẹn thắt khi đó là hình ảnh của nỗi nhớ thương trong niềm tưởng niệm về người em gái út non yểu:

… Bố may đến dĩa dầu hao
Mẹ đi cấy. Út bám vào đôi vai
Dìu nhau chơi suốt cả ngày
Bạn bè hết dế đến bầy gà tơ
Lạ lùng thay, tuổi ngây thơ
Truyện Nôm làu thuộc chẳng chờ học xong…

Cha mẹ bận việc đến tối mắt tắt đèn, đứa anh trai phải cõng em gái út, dỗ em, chơi đùa với em, và nhờ nghe cha kể truyện thơ nên thuộc nằm lòng, lại kể cho em nghe từ tuổi chưa đến trường. Ngậm ngùi, đau xót là em không còn nữa trên đời, từ mấy mươi năm trước!
Thật ra, tôi đã diễn giải thơ Võ Văn Luyến. Với thơ anh, không cần đến thao tác đó. Thơ anh vốn trong sáng, dung dị, lại có dăm bài đã là một thứ truyện thơ dân dã. Chất truyện thơ này, chính anh đã nói lên nguồn gốc sâu xa của nó. Chỉ có đôi điều, tôi thấy tiếc, nếu anh dùng ngay tiếng địa phương Quảng Trị mình, như cha (hoặc bọ) và mạ, thay vì bố và mẹ, có lẽ những người đồng hương từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên – Huế xa quê sẽ bật khóc khi đọc Út ơi!.
Thơ Võ Văn Luyến còn rất xúc động khi anh viết về tình nghĩa trong hạnh phúc: hạnh phúc với người vợ (một cô giáo hệ mầm non) cùng hai đứa con gái cưng (Diễm Hạnh và Trang Phúc).
Trong thơ Võ Văn Luyến, bóng dáng quê nhà Quảng Trị xương rồng cát trắng vẫn rất trắng cát, nhưng thiếu hẳn màu xanh kiên cường, kiên tâm lạ lùng, hoa nở trắng muốt, nao lòng, say lòng và gai sắc đến bật máu tay vin, tay chạm vào đó. Anh không muốn nói đến gai sắc của loài hoa trắng muốt, thân khía cánh sao hoặc lá lưỡi rồng xanh, xanh một sắc xanh kiên cường, kiên tâm đến kinh ngạc ấy. Nhưng thật ra, gai sắc người ta vẫn yêu, như đã yêu hoa hồng, hoa bưởi lắm gai đó thôi. Và thật ra, tôi vẫn tìm thấy gai sắc trong thơ anh, loại gai cần có để lẩy những nhọt đanh cần lẩy kẻo ung thối da thịt người. Bài Làng xưa chứa đựng một niềm nhức nhối:

Nơi cất giấu sự bình yên
Bàn chân khắc đường kỉ hà năm tháng

Nơi những con đỉa đói lép kẹp
Một đời gập lưng đợi chờ bên cây lúa

Nơi lũ chuồn chuồn đẹp trăm sắc màu
Buồn không nhấc nổi mình bay liệng

Nơi hương đồng cỏ dại
Phung phí nỗi đam mê mòn vẹt

Làng làng làng làng làng
Đâu đó ai còn cất lên tiếng gọi!?

Tôi thật sự rùng mình kinh hãi. Làng xưa, chốn địa ngục do những Bá Kiến, những Nghị Quế thống trị đó sao? Những hình ảnh thường thấy, được chọn đặt vào thơ thành những ẩn dụ, mang ngữ nghĩa khác, tạo nên một lực phê phán nén chặt, và do đó, bùng nổ dữ dội. Làng thôn hôm nay được cảnh báo về nguy cơ vốn luôn luôn, muôn thuở mai phục – nguy cơ về sự tái lập địa ngục làng xưa, dưới bàn tay bọn cường hào ác bá mới, hút máu người, bóp chết ước mơ người! Đó là gai sắc của loài xương rồng hoa trắng trên miền cát trắng nghiệt ngã về thiên nhiên, tỉnh táo và sắc bén về trí tuệ, tầm nhìn.
Cho dẫu Võ Văn Luyến chỉ nói đến tâm hương chứ không phải hương trầm thật trong Út ơi!, hay không nhắc đến chút trầm hương nào trong bài Làng xưa, tôi vẫn bị tên của tập thơ là Trầm hương của gió ám ảnh. Như thể không nói đến gai sắc mà thật sự gai rất sắc, trầm hương ở đây là cũng như thế: hương của trầm (chất nhựa tinh luyện, cô đặc của một đời cây dó trên rừng thẳm) vẫn bảng lảng đâu đó từ cái tâm (trái tim) người viết.
Tôi có khiên cưỡng không, khi muốn bao quát hết tập thơ 67 bài của anh, vốn được anh tuyển chọn lại sau hơn 20 năm làm thơ, qua một tên chung cho cả tập? Thú thật, tôi muốn tìm ra một nẻo vào thế giới thơ của Võ Văn Luyến. Và từ góc độ trầm hương của gió mà anh đã định vị ở bìa sách, ở mỗi trang sách, với những ngã ba, ngã tư ý nghĩa (các tầng nghĩa) của cụm từ, tôi cảm nhận thơ anh.

4

Tôi biết Võ Văn Luyến không thể học được người thơ xưa, đốt trầm lên để làm thơ, ngâm thơ hoặc đàm đạo về thơ, trong làn hương thơm ngát với những sợi khói mỏng manh, la đà bay. Tôi cũng biết anh không thể đủ tiền để chơi sang bằng cách mua nguyên một khối trầm lớn, đem về khắc những hình ảnh kỉ niệm vào đó rồi đặt trên bàn viết. Thật ra, thi ca đã từ lâu rời khỏi những tao đàn quý tộc, quan lại, để về với giảng đường đấu tranh, chiến trường súng nổ, công trường dậy lửa, vỉa hè thành phố xô bồ, bùn đất nông thôn tĩnh lặng. Thi ca và trầm hương ngỡ không còn mối dây liên hệ nào. Nhưng cũng thật sự là không phải thế.
Thi ca và trầm hương vẫn còn đó, nhưng trầm hương là khối tim. Và không còn gió quẩn trong thi các, thi sảnh quan phương mà là gió đồng, gió biển, gió đồi, gió phố.
Trên khối trầm hương trong lồng ngực ấy, Võ Văn Luyến dành một chỗ cho tình đồng đội một thời làm nghĩa vụ quân sự ở biên giới phía Bắc, cho tình bạn của những người làm thơ, làm báo, dạy học.
Về tình bạn và duyên nghiệp thi ca, báo chí, Võ Văn Luyến viết được những bài thơ hay nhất trong Trầm hương của gió. Tôi chỉ xin trích nguyên văn 2 bài, không thêm một lời bình phẩm nào. Ai lại đi bình phẩm những gì đã thật sự làm mình rưng rưng nước mắt.

Khúc tang tình nhớ bạn (3)

Đường trăng lẻ bóng chân khuya
Nao nao một thuở đi về bên nhau
Nhiều đa mang vẫn cơ cầu
Chết trong hi vọng ngàn sau sạch lòng
Bạn vào phố thị người đông
Tôi về đồng đất cấy trồng niềm yêu
Thơ mang thời vụ ít nhiều
Nên chi dân dã bám theo kiếp người
Vẫn vầng trăng thắp bên trời
Vẫn câu nhân ngãi nói lời trái tim
Muôn sau đời mãi đi tìm
Muôn xưa còn đó nổi chìm lênh đênh
Mặc ai gõ nhịp kim tiền
Ta làm gõ kiến an nhiên hồn mình
Tình tang là cái tang tình
Vãn đường chợt thấy bóng hình trôi theo.

Cảm khúc

Tặng TXA., NH.

Bây giờ bên cốc rượu đắng
Bạn bè một thuở ra đi
Tôi ngồi bên tôi thầm lặng
Đèn xanh, ngọn đỏ, đề thi

Dặn lòng còn đầy thương nhớ
Dấu chân lối cũ đi về
Trắng đất, trắng trời áo trắng
Sao ta trắng nỗi đê mê?

Hành trang câu thơ mỏng mảnh
Gió bay qua mặt con người
Ta cúi nhặt từng con chữ
Ròng ròng cát trắng tuôn rơi…

Đã tự nhủ mình không nên bình phẩm trước những bài thơ tặng mình, khiến mình rưng rưng nước mắt, nhưng cũng không thể kìm được!
Tôi hiểu Võ Văn Luyến, anh muốn thể hiện một điều: Là nhà giáo, anh luôn luôn trắng nỗi yêu mê trước những tà áo trắng học trò phổ thông trung học. Yêu mê (yêu đương đến mê dại), chứ không phải đê mê (cảm giác mê mẩn bậc thấp hoặc trạng thái man mác, bát ngát). Người đọc thường tiếp nhận từ “đê mê” theo nghĩa thường dùng, phổ biến nhất (trong tiếng Việt hầu như chỉ có một nghĩa ấy)! Phải chăng, với nghĩa đó, nhà giáo Võ Văn Luyến đã khẳng định bằng câu hỏi phủ định một cách thẳng thừng, bộc trực đến thế? Thẳng thừng, bộc trực là điều khá lạ trong thơ anh. Và mặc dù người đọc đồng ý rằng, tác giả viết ra hai chữ “đê mê” để phủ định, nhưng ai cũng hiểu là, chỉ cần lỡ tay viết đến hai chữ ấy trong văn cảnh thể hiện quan hệ trong trắng học trò – bảng đen, phấn trắng đó, sẽ tạo nên một hiệu ứng phản cảm, ít ra cũng nghe rất chỏi, rất ngại.
Trong kho từ vựng còn có từ trầm mê, Đào Duy Anh định nghĩa bằng nghĩa mở rộng trong Từ điển Hán – Việt của ông: mê muội, đắm chìm [trong những giáo thuyết]. Ồ, với giáo thuyết nào, ta cũng cố thấu suốt, đồng thời phải cố vượt lên để làm chủ trí tuệ mình! Hình như anh chẳng nói thế là gì trong bài Tự sự trước năm 2000, một bài thơ trong Trầm hương của gió? Vậy thì, hãy tự hỏi vì sao ta trắng sạch nỗi trầm mê hoặc yêu mê chăng? Hay vẫn để nguyên văn câu tự hỏi, trước khung cảnh trắng đất, trắng trời áo trắng, ta biết vì sao ta vẫn giữ lòng trong trắng với nỗi man mác, bát ngát?
Và cũng phải nói thêm một điều nữa, trước khi khép lại bài viết đồng cảm, chia sẻ này. Võ Văn Luyến đừng lo thơ ca của mình rồi như nước lã, như cát khô chảy sạch qua kẽ tay. Con chim gõ kiến vàng, với một hình ảnh trong thơ hiện đại được nhiều người biết đến, ta ngỡ như biểu tượng gõ nhịp thời gian, cứ tích tắc, tích tắc, và bàn tay vốc cát khô, cát ròng ròng chảy, với tri thức văn học cổ, ta ngỡ như đồng hồ nước, đồng hồ cát, cứ rơi rơi, rơi rơi. Nhịp gõ tích tắc và tiếng rơi rơi, cũng như âm thanh của đồng hồ tự động, điện tử, sẽ mãi âm vang thầm thì vào vô tận. Chúc Võ Văn Luyến kiên tâm với nhịp trái tim – khối trầm hương thơ ca trong ngực mình. Rộn ràng. Tê dại. Xao xuyến. Trầm lắng. Náo nức. Và ở nơi lồng ngực đó, còn rất nhiều cung bậc khác của tình cảm con người, rất con người, nhưng căn bản vẫn rất đúng đắn, chuẩn mực – đúng đắn, chuẩn mực của thật – tốt – đẹp.
Đọc bài viết này, tôi hi vọng sẽ là một dịp Võ Văn Luyến nhìn lại để bước tới. Với tinh thần chia sẻ, nhất là có ý thức lắng nghe các phản hồi, những gì tôi viết, đúng hay sai, sâu hay cạn, khen hay chê, thiết tưởng không phải là vô ích. Bạn có thể thẩm định lại.
Nhà thơ – thạc sĩ văn chương Võ Văn Luyến vẫn còn nhiều tập thơ và tiểu luận. Bạn thân mến, tôi chúc tất cả sẽ được xuất bản trong nay mai!

Tp. HCM., 10 giờ 02 phút
ngày 12. 9. HB4
(28. 7 Giáp thân HB4).
TRẦN XUÂN AN

(1) Trầm hương của gió, Nxb. Thuận Hoá, 2003.
(2) Trong tiểu thuyết Bướm trắng, Nhất Linh có ghi lại bài ca dao này. Xem thêm: Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, bản in lần thứ 8, Nxb. KHXH., 1978, tr. 298 – 299. Theo tôi nghĩ, trong sđd., Vũ Ngọc Phan đã chép lại một tục bản (bản viết nối), chứ không phải là dị bản. Nhưng không hiểu sao, Vũ Ngọc Phan lại tách ra làm hai, xem như hai bài độc lập, mỗi bài chỉ một cặp câu lục và bát. Nguyên văn như sau:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đò khác đưa
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ!

Với tục bản này, ca dao Quảng Trị hình như đã được nhân dân ở đó sáng tạo thêm theo mô-típ (motif) “tình chị duyên em”, “tình bạn duyên mình” với hoàn cảnh cụ thể là con đò xưa (chị / bạn) sớm thác, thì con đò nay (em / mình) vẫn chờ sĩ tử (khách bộ hành), nếu người sĩ tử ấy thật sự có nghĩa. Tôi cũng mong chàng trai vào kinh đô dự thi ấy thật lòng có nghĩa thuỷ chung, không phải cố tình phụ bạc, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, không thể quay lại với con đò hẹn ước.
(3) Trích đúng nguyên văn, có đối chiếu (để chỉnh sửa lỗi in ấn): Nhiều tác giả, Còn đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 41. Bài này còn được đăng trên tạp chí Cửa Việt, tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN.), nhưng rất tiếc, tôi chưa kịp tra cứu lại số và ngày tháng năm phát hành.


Đã gửi:

1. Võ Văn Luyến (ngay sau khi viết xong, 12. 9. 2004)
2. Inrasara (12. 9. 2004)

(Bài đã đăng trên Tạp chí Cửa Việt,
số tháng 11. 2004).


_______________________

Bài thứ ba

ĐỌC THƠ NGUYỄN TIẾN ĐẠT

Kính gửi đến gia đình
cố thi sĩ Nguyễn Tiến Đạt
với niềm tưởng tiếc khôn nguôi về anh.

TXA.


1

“Khi hỏi về quan niệm thơ, Đạt không nói, chỉ rung đùi ngâm hai câu thơ của mình:

‘Làm thơ không chết vì cơn đói
Nhưng đói chừ đây đến cuộc đày’.

Chúng tôi nghĩ không có cuộc đày nào dành cho Đạt cả, khi thơ anh luôn cuộn chảy trong bể khổ của con người. Đọc thơ Đạt cứ muốn khóc sau khi đã mỉm cười” (1).
Đó là lời giới thiệu của nhóm biên tập, tổ chức bản thảo (Hàn Vũ Hùng, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Quang Lập) về Nguyễn Tiến Đạt ngay trên chùm thơ năm bài của anh trong một tuyển tập thơ trẻ Quảng Trị. Ở trang trước đó, nhà văn Xuân Đức đã hai lần nhắc đến hai câu thơ khác của Nguyễn Tiến Đạt trong một bài đề tựa:

Vô vi thì buồn, viết thì sợ
Trời rộng, đành nâng chén ngang mày.

Trong bài tựa ấy, Xuân Đức tỏ bày một niềm băn khoăn, khắc khoải về mối nợ đối với lịch sử xa và gần của mảnh đất quê nhà, một xứ sở vốn thuộc bộ Việt Thường, rồi thuộc quận Nhật Nam, lại mang tên châu Ô và châu Ma Linh, sau đó được đổi làm châu Thuận, cuối cùng được gọi là Quảng Trị cho đến bây giờ (*). Theo nhà văn, mối nợ đối với lịch sử càng gần, càng nặng trĩu.
Bốn câu thơ được trích dẫn ấy, thật ra cùng ở trong một bài thơ, có nhan đề là Tặng bạn, thể hiện thái độ, tâm trạng cầm bút làm thơ của Nguyễn Tiến Đạt trước tình cảnh “manh áo miếng cơm quá lắt lay” đã làm tha hoá bạn bè, trước những ẩn sĩ non cao tránh né nhìn thẳng vào cuộc đời, mà chỉ “mãi nhìn con trẻ mắt thơ ngây”.
Nhưng không có gì quá khốc liệt, quá gay cấn, quá đụng chạm như lịch sử vốn thế, trong cả hai tập thơ riêng, Nguyễn Tiến Đạt đã xuất bản (2). Hoá ra, giữa “trời rộng, đành nâng chén ngang mày” chỉ là động tác bày tỏ một lời nguyện hứa với cuộc đời, về những gì còn chưa viết được.
Còn có thêm một điều nữa. Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về một lời nhận định khác của nhà văn Xuân Đức được in ở phần gấp bìa bốn của tập thơ Người đi nhặt cuội:
“Anh hát vu vơ, nói bông phèng, nhưng mà khắc khoải, mà cô liêu, đôi khi gần với sự thảng thốt:

‘Đôi khi như hạnh phúc tê tái
Trầm trầm đưa tiễn đến muôn sau
Ba mươi năm nữa ai cuống quýt
Rưng rưng tóc bạc trút lên đầu’.

Cái kết cục nghe rùng mình, một sự thảng thốt đầy linh cảm định mệnh… Sự bất ổn trong con người Đạt thật đáng sợ. Thơ anh vì thế không lẫn được…”.
Tôi không hiểu sao Xuân Đức lại viết như một lời tiên tri về số phận tác giả, mặc dù đoạn thơ trong chỉnh thể bài thơ Đôi khi của Nguyễn Tiến Đạt hầu như mang một ý tưởng giản dị hơn. Đó là những khoảnh khắc tâm trạng bâng khuâng, hồi tưởng lúc một mình, được Nguyễn Tiến Đạt thể hiện qua 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu, và khổ thơ nào cũng đều bắt đầu bằng hai chữ “đôi khi”. Mỗi khổ thơ là một đoạn độc lập, mặc dù mỗi đoạn có một hoặc hai ý tưởng về một hoặc hai khoảnh khắc. Điều cần lưu ý là các khoảnh khắc tâm trạng ở từng đoạn, rất khác nhau về không gian, thời gian. Nhìn chung, phần nhiều những khoảnh khắc ấy đã trở thành kỉ niệm về kỉ niệm. Nguyễn Tiến Đạt nhớ có đôi khi anh đã bâng khuâng, hồi tưởng về những gì đã xa xôi, đã trải qua trong quá khứ. Cấu trúc toàn bài là các đoạn (các khổ thơ) đẳng lập, không có đoạn kết. Đoạn thơ trên là khổ thơ cuối (không phải kết), viết về một lần trong “đôi khi” của anh. Lần ấy như thể một niềm hạnh phúc, nhưng là hạnh-phúc-buồn đến tê tái. Hạnh phúc tê tái ấy được anh thầm lặng đưa tiễn đến muôn sau, có lẽ bằng thơ ca, hoặc mệnh đề với chủ ngữ được hiểu ngầm (lược bỏ) đó chỉ là một cách nói đến ý niệm thuộc về mãi mãi. Và Nguyễn Tiến Đạt cho rằng, ba mươi năm sau, chính anh (với đại từ ai) là người sẽ cuống quýt nhớ về hạnh phúc tê tái một thời trai trẻ, và sẽ rưng rưng khóc, nghe tóc mình chợt bạc trắng như tơ trời bỗng đổ trút lên đầu.
Thơ là một thể loại có khả năng gợi nên nhiều chiều cảm nhận khác nhau, tất nhiên trên những điều kiện ắt có và đủ, vốn đã được nâng lên thành nguyên tắc lí luận văn học nhất định. Cách cảm nhận của nhà văn Xuân Đức chỉ là một trong vài hướng tiếp cận đoạn thơ trên của Nguyễn Tiến Đạt.
Tôi cũng nghĩ rằng, Nguyễn Tiến Đạt khi chọn nhận định trên của Xuân Đức để đặt vào phần gấp bìa bốn là anh đã chấp nhận những cách cảm thụ khác nhau, chứ chưa hẳn khi viết, Nguyễn Tiến Đạt đã hoàn toàn nghĩ thế. Vả lại, một nhận định (đặc biệt là nhận định văn chương) không hoàn toàn đúng, nhưng tương đối chính xác, đạt khoảng 80%, đã là một nhận định có giá trị. Thậm chí, tôi biết, hầu như khá nhiều nhà thơ rất ngạc nhiên khi nghe hoặc đọc những lời bình về thơ mình; và vốn phóng khoáng, họ cũng chấp nhận những cách cảm thụ khác nhau của nhiều người đọc trên một chỉnh thể văn bản bài thơ, tập thơ cụ thể của mình. Tất nhiên phải loại trừ cách cảm thụ phi nguyên tắc, dẫn đến sai lệch nội dung tư tưởng – hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Tuy nhiên, ở đây không phải vấn đề phương pháp luận cảm thụ văn học, mà là quan niệm, thái độ sáng tác của Nguyễn Tiến Đạt và số phận của anh.
Nguyên là sĩ quan công an, nhưng phục tùng không lâu, anh đã ra khỏi ngành. Phải chăng, do tư duy thơ Nguyễn Tiến Đạt vốn thế? Sau một thời gian thất nghiệp, anh chuyển hẳn sang làm báo (cộng tác viên của tờ Tuổi Trẻ TP. HCM., đồng thời là phóng viên chính thức của báo Quảng Trị).
Nguyễn Tiến Đạt đã qua đời do một tai nạn giao thông, và đã được an táng lại làng nghề đan chiếu Lâm Xuân, huyện Do (Gio) Linh quê nhà, vào ngày 22. 7. 2001. Anh chỉ sống 37 năm trên cõi đời này. Sự thể này, hoàn toàn bởi ngẫu nhiên, một ngẫu nhiên rất đột ngột. Tai nạn xảy ra chỉ cách thời điểm anh nghe tin mình được giải thưởng báo chí vài giờ đồng hồ (3). Chính ngẫu nhiên là “định mệnh” oan nghiệt?
Trên tay tôi hiện có hai tập thơ riêng của Nguyễn Tiến Đạt, do anh đề tặng và kí tên. Từ Quảng Trị, anh gửi vào địa chỉ nhà tôi, theo đường bưu điện và nhờ người quen trao giúp. Lúc này, thêm một lần nữa, tôi ngẫm nghĩ về người thơ Nguyễn Tiến Đạt trong nỗi ngậm ngùi, tưởng tiếc.
Những cảm nhận khởi đầu vềâ Nguyễn Tiến Đạt, số phận anh và quan niệm về thơ của anh là như thế.

2

Một nỗi niềm dễ nhận thấy ở thơ Nguyễn Tiến Đạt là yêu thương, khắc khoải và luôn hoài nhớ làng quê Lâm Xuân của anh, mặc dù thời gian anh xa Quảng Trị để vào Huế học đại học, ra Lạng Sơn làm nghĩa vụ quân sự là không bao lâu, và làng quê ấy không xa cách mấy với Đông Hà (tỉnh lị của Quảng Trị), nơi anh có thời gian công tác khá dài. Đúng hơn là Nguyễn Tiến Đạt để lòng mình luôn hướng về Lâm Xuân, một làng quê bao đời dòng họ anh khai canh, lập nghiệp, sinh sống ở đó, ngay cả trong giai đoạn anh ở Đông Hà – giai đoạn sáng tác chủ yếu của anh. Làng Lâm Xuân là núm ruột trong thơ anh. Thông thường, có đi xa mới nhớ; càng xa, càng nhớ; càng khó có dịp về làng, càng nhớ thương da diết. Đằng này, từ nhà anh, cơ quan anh phóng xe về làng, đi chậm lắm cũng nửa tiếng đồng hồ, có gì đâu mà khắc khoải, hoài nhớ đến vậy! Có gì lạ thường không, khi tâm hồn Nguyễn Tiến Đạt là thế?
Đó là nỗi nhớ thương thời niên thiếu trong bài Tuổi thơ, là hoài niệm thời có một mối tình thoáng nhẹ, thầm kín mà khôn nguôi ray rứt trong Thôn quê. Và ở nhiều bài khác nữa, hay hơn, sâu hơn nhiều. Nhưng đậm nhất nỗi niềm ấy với ngôn từ trực tiếp nhất, vẫn trong bài Tôi có một làng, anh viết để chia sẻ với nhiều người và để tặng con trai Tiến Nhất của mình. Bài thơ phân làm 3 đoạn, viết về 3 thời của đời người. “Tôi có một làng để khóc”, đó là tiếng khóc sơ sinh, chào đời của Nguyễn Tiến Đạt. “Tôi có một làng để sống”, từ bé cho đến khi trưởng thành, và ngay khi ở Huế, Lạng Sơn, Đông Hà, anh vẫn sống bằng cả tâm hồn mình ở đó. “Tôi có một làng để chết / Trái tim thề giữ vẹn tròn / Có người vợ nghèo ngồi hát / Trĩu hồn nuôi lấy cái con!”. Và điệp cú như những âm hưởng vang vọng không dứt, lan vào miên viễn cuối bài, “Tôi có một làng… Tôi có một làng!”. Câu cuối như một khẳng định tự hào, tự hào mà thống thiết. Tôi nghĩ, phải chăng sau này, có nhớ thơ Nguyễn Tiến Đạt là nhớ làng quê Lâm Xuân, một ngôi làng gần kề bên bờ sông Bến Hải (Hiền Lương); nhớ làng quê Lâm Xuân là không làm sao quên được một đời thơ Nguyễn Tiến Đạt, người thơ ấy đã khóc chào đời, đã sống bằng cả tâm hồn thơ ca, sống với, sống vì Lâm Xuân, và chết với ước nguyện được yên nghỉ nghìn đời trên mảnh đất làng quê ấy. Trong giây phút cuối của đời mình, tôi tin rằng anh vẫn vừa tưng tửng vừa quằn quại bấu víu vào làng quê Lâm Xuân trong trái tim anh để mong được sống lại, như những lúc ngã lòng trước khó khăn, thách đố giữa đời:

Một vùng quê đủ đàn cò đậu
Trọc lóc tên riêng giữa bản đồ
Đến lúc ngã lòng tay ta vấu
Vào giữa tim mình mắt mở to.
(Quê cũ)

Quảng Trị có một người thơ những năm cuối thế kỉ XX lạ lùng đến thế!

Thì còn đây ẩn hiện những ngày xưa
Sau cuộc tàn còn mấy đầu bè bạn
Em là nơi tôi cần gửi tấm thân nhỏ mọn
Trước khi về lạy mẹ giữa đồi hoang!
(Vẫn còn đây thương nhớ)

Cùng con đánh chiêng nhà thờ họ Nguyễn (họ Nguyễn làng chiếu Lâm Xuân) là một bài thơ mang giọng điệu riêng tưng tửng của Nguyễn Tiến Đạt, lại có một tứ thơ giản dị mà bất ngờ, nên mới mẻ và rất ấn tượng, cùng một ngôn ngữ thơ dân dã:

Đưa con về vái họ hàng
Tạ cùng dòng giống xa làng bấy nay
Cha sinh chỉ một chốn này
Mới sinh con giữa phố đầy đèn hoa
Chiêng này con đánh giùm cha
Đánh vang cho họ Nguyễn ta cùng mừng
(…)

Tiếng chiêng vời vợi và sâu thẳm trong thiêng liêng, “tiếng cao gửi núi tiếng chùng gửi sông”. Cảm xúc còn được thể hiện cùng những suy tưởng, khi cùng con trai chắp tay suy niệm trong nhà thờ họ tộc:

Lòng thành dâng một nén hương
Cúi xin trời đất công ơn sâu dày
Nhà thờ phượng múa rồng bay
Cây đa còn đó trúc này còn đây
Tiếng chiêng gọi kẻ lạc bầy
Ai chê phận bạc, ai rày phận đen
Quê hương máu chảy ruột mềm
Trăm năm chỉ một cõi thiêng cội nguồn!

Những con đường làng có vài đoạn khó quên, bởi sau giọng thơ bi tráng và khinh bạc, là cả tấm lòng của người đặt núm ruột vào đất quê:

Nhạt lưỡi nửa đời qua sấp ngửa
Ta giờ chân mỏi gối, tay run
Khập khễnh bờ đê xin được hú
Sức tàn lan rợn một dòng sông

Rằng có hay không em giữa đời
Sao trời bé quá, trăng trời vơi (4)
Trăm năm nhìn lại ra một cục
Xin ném ta vào ô đáo chơi!

Bài Mugic viết về chất nông dân, chất làng quê trong chính anh với niềm tự hào, tự tin của một người đã trải tầm nhìn ra cả thế giới, là một bài thơ khá hiện đại của Nguyễn Tiến Đạt, nhưng cũng với giọng điệu rất riêng của anh. Đối với Nguyễn Tiến Đạt, dẫu hiện đại (có lẽ nên gọi là tân kì [moderne], tân thức [modern-style]) hay dân dã, vẫn là giọng điệu riêng, tạng chất riêng.

3

Viết về quê hương mình, Nguyễn Tiến Đạt có nhiều bài thơ về sông Bến Hải (Hiền Lương) thật xúc động. Có điều tôi nhận ra, hầu như hơn một nửa trong chùm thơ này (ở cả 2 tập), đều được anh viết với thể thơ tự do, với những hình ảnh thơ, ngôn từ thơ khá mới mẻ.
Tôi không thể không xúc động khi đọc Dòng sông đời mạ, cho dù đó là một bài thơ tuy hay nhưng còn đôi chữ đáng tiếc (giá như Nguyễn Tiến Đạt đã thay bằng những chữ khác! (5)). Không những hay, bài thơ còn mới lạ (tân kì) nữa, nhưng không phải là tân kì ở việc tìm kiếm thi liệu, mà ở cách khai thác, cách nhìn thi liệu:

Con phượng hoàng nào chết xuống trảng cát này
Để dấu chân sinh ra những dòng sông chảy về biển cả
Nước đỏ phù sa như máu từ thân mạ
Lau lách cùn vẫn trổ màu cờ hoa!

Đôi lúc con ngồi nghĩ chuyện gần xa
Thấy nón rách mạ như trăng mùa đông giữa trời quên lãng
Thấy đường trời cong như lưng mạ oằn qua năm tháng
Phía dưới bầu vú mạ cạn lại đầy cho sông chảy trăm năm
(…(5))
Có phải thế nên đàn con mạ lớn lên
Chẳng đứa nào mơ giấc mơ ở lại
Con gái lấy chồng xa con trai cùng chiến trường dầu dãi
Nghe tiếng trẻ thơ mạ chống cửa khóc thầm

Mười năm… Ba mươi năm từ bụng mạ lớn lên
Số phận cho con, chỉ một kẻ lang thang bốn phương mười hướng
Biết làm sao, biết làm sao khác được
Thì mong chi! Thưa mạ chút an lòng

Bất chợt chiều nay một mình đứng bên sông
Ngoảnh mặt về quê gọi con đò xa vắng
Giật mình: thân mạ – chống trời mây…

Nhưng tân kì (hiện đại, moderne & tân thức, modern-style) hơn vẫn là Bến Hiền Lương trong tập Khúc hát tình tang. Nguyễn Tiến Đạt rất ý thức phân biệt giữa mô-đéc cầu kì, lập dị đến mức dị hợm với mô-đéc mà rất truyền thống. Tôi không thể không trích nguyên vẹn bài thơ này, nhưng tạm ngắt dòng bằng dấu sổ:

“I. Những loài chim về bên kia sông giấu nỗi buồn con gái / Bên này sông có ngôi mộ của mẹ già suốt đời không qua nổi bên kia / Con sông tày gang dấu huyền trăng ơi hời ru muôn thuở / Tiếng ru của đá và tiếng ru của sóng chảy dọc suốt đời tôi dòng máu Hiền Lương / Em ơi nơi ấy tôi sinh, mẹ ủ tôi bằng lá cỏ gai dưới gầm trời bom đạn / Tôi lớn lên như con còng ngơ ngác nhìn sông trôi bóng mẹ hoài chùng xuống / Trên dòng sông vọng điệu hò đưa linh / Của những nỗi niềm tiền kiếp / Rào rào đỉnh dốc Trường Sơn / Chiến tranh rạch qua đời tôi những đường sấm sét / Người đôi bờ nửa đêm hay thức giấc / Cả những đêm sau năm 2000 / Những người già chưa bao giờ qua được bên kia sông / Hồn vẫn còn lởn vởn trên mặt nước / Đêm đêm tôi nghe những tiếng gọi đò và tiếng người xin lửa / Họ ra đi trước ánh nắng mặt trời thắp lên / Ngủ yên sông ơi! Niềm tâm thức nhạy cảm của tôi!
II. Tôi như chú ếch uôm uôm triệu năm há mồm trên bến vắng / Đợi gánh hát em về áo mũ xênh xang / Hãy hát đi! Con sơn ca rót mật lưng trời / Sông bắt đầu ngân rồi đấy, ánh trăng chung chiêng […] cùng con đò / Từ tiếng hát của gió chảy ra tất cả / Chảy ra mặt trăng ngủ quên dưới nước / Chảy ra dòng sông chưng cất bằng hồn của đá / Chảy ngàn khát vọng giọt sữa ru con / Trong ánh sáng của vầng phù sa cổ / Em nghe không bên kia bờ Vĩnh Quang / Tiếng bè trầm của những oan hồn trong lòng địa đạo / Và âm cao của sóng dâng rạn vỡ lồng ngực / Như vạn hạt mầm xé đất xanh lên / Em nghe không những nấm mộ trắng trên nghĩa trang Trường Sơn / Âm u hát báo giờ rạng sáng / Tiếng hát theo sông trôi dọc xóm làng / Hoá triệu ngọn đèn thắp đỏ cơn giông/ Em nghe không người thợ cầu vung đường búa bằng ánh sáng / Chiếc cầu trăng đã bắc qua rồi / Vẫn có những con chim treo mình hộc máu / Trên bến Hiền Lương vọng trắng tiếng gọi đò / Cho qua một chút / Cho qua một chút / Cho qua một chút…”

Đó là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Tiến Đạt viết về Sông Tuyến, con sông Vĩ tuyến 17, một thời đau thương bi tráng, mãi mãi còn trong lòng người Quảng Trị, mãi mãi in đậm vào lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Ngoài ra, anh còn hai bài, Bến sông I, Bến sông II. Trong đó, đặc biệt bài Bến sông II ở thể thơ sáu chữ, vừa cổ điển vừa tân thức, là một bài đẹp hoàn chỉnh.

(…)
Thế mà trăm năm lỗi hẹn
Bây giờ em hát ru con
Tóc xanh ngàn năm buông trễ
Giật mình giọt sữa lăn tròn
(…)
Anh đừng nhắn qua bè bạn
Hiền Lương có một người về
Em thà như con nước lặng
Đừng làm đuối một bờ đê…

Tôi biết viết thêm gì về dòng sông lịch sử, vết thương Việt Nam – vết thương thế giới này, khi tôi đã viết về nó nguyên một cuốn tiểu thuyết hơn 600 trang! Và tôi còn biết viết gì nữa, vì thơ Nguyễn Tiến Đạt ở đề tài này, khi thầm đọc, nghe tự nó đã vang lên thấm thía vào lòng ta…

4

Thị xã Đông Hà, trước Nguyễn Tiến Đạt, cũng có nhiều người thơ viết về, nhưng với anh, Đông Hà trở thành một nỗi niềm chiếm lĩnh với một tỉ lệ không nhỏ trong hai tập thơ của anh. Nguyễn Tiến Đạt hầu như bao giờ cảm nhận và thể hiện về Đông Hà cũng không thể không bằng tâm trạng của chàng trai làng chiếu Lâm Xuân. Tập trung nhất cảm nhận với tâm thế ấy của anh về Đông Hà là ở 3 bài thơ: Em ơi! Thức cùng thị xã, Ghi chép ở một góc phố và Thị xã.

“Đêm nay nghe dòng sông chảy về biển cả / Thao thiết lòng dâng tiếng mẹ ru hời / Trăng treo trên đầu phố cũ / Biết mẹ ta còn thức trên đời / Từ thuở em rời vườn cấm / Đến cùng anh ra phố chợ trời…”
(Em ơi! Thức cùng thị xã)

Phải chăng anh viết những câu thơ đẹp và sâu thẳm, lại rất đời thường kia trong những ngày thất cơ, thất nghiệp, phải lăn lộn giữa chợ trời bán buôn kiếm sống? Cũng với bài thơ có ghi rõ viết tặng Đông Hà đó, Nguyễn Tiến Đạt có đôi câu học theo cách nói gần như trong Trường ca Đăm San của đồng bào Tây Nguyên (lấy độ ngân âm thanh để đo chiều dài không gian), nhưng lại mới mẻ lạ thường:

“Ngày mình yêu nhau anh thấy mặt trời đỏ trong lồng ngực / Tung hô thị xã trên vai mình / Anh biết mình ở đâu để không buồn nếu mất tất cả / Khi tựa vào em anh mơ đoạn đường dài / Thị xã không dài hơn tiếng vọng còi tàu / Ai cũng thức anh hẳn tin là thế / Phía cuối con tàu sẽ chạm đến bình minh”

Điều đáng nói nữa là đoạn kết của bài Em ơi! Thức cùng thị xã. Đoạn kết quá đỗi bất ngờ, tạo cho bài thơ một tứ thơ không thể không in sâu vào tâm khảm người đọc:

“Dậy đi em! Dậy đi em! / Có ai xiêu vẹo ngoài kia chúng ta cùng đón / Có thể là người cụt chân đi tìm lại chân mình / Chiến trường xưa giờ đã cao tường kín cổng / Hãy dựa vào bàn chân còn lại của anh / Để biết thế nào là sự sống / Anh yêu em! Yêu quá vô ngần”.

Hai vợ chồng trẻ, mặc dù thất nghiệp, nhưng dĩ nhiên cả hai đều lành lặn tay chân và hơn thế, còn rất khoẻ mạnh, bảo nhau phải dựa vào bàn chân còn lại của anh thương binh, vốn là người cụt chân đi tìm lại chân mình, mới giác ngộ ra chân lí sự sống. Tứ thơ là cả một triết lí sinh động, sâu sắc.
Thơ Nguyễn Tiến Đạt không những rất dân dã ở những bài lục bát trên kia, mà ở đây, còn thể hiện thêm chất tân kì – truyền thống – trí tuệ.
Và Đông Hà của Nguyễn Tiến Đạt còn là thế này đây:

“Đông Hà / Lóc xóc ổ gà / Liêu xiêu thi nhân / Con gái như loài ong tổ vỡ / Mịt mù bay qua / Gió ngang dọc / Bám theo cơn lốc xe hàng / Và đất đá / Khi tan ra ngửa mặt nhìn trời / Và những ngày xưa cũ / Không ra đi nằm lại trên đồi / Chợt gặp miếng ăn chưa đủ / Tấm lưng còng nắng xỉa những làn roi… /(…)/ … Thị xã mê cuồng / Không đâu là buồn / Ô kìa! Gã thi nhân cô độc / Hát cùng trăng suông…”
(Thị xã)

Mảng viết về phố thị, không hẳn là Đông Hà, ở bài Khi chúng tôi trẻ lại có những chi tiết hầu như các trang báo hàng ngày đều phơi bày:

“Tôi lớn lên thiếu vắng những câu Kiều / Những cánh cò cũng hoá thành chuyện cổ / Những cô Tấm bỏ làng ùa lên phố / Cởi áo trúc bâu để đổi lấy mốt rin-bò (**)/ Những Lục Vân Tiên bị bọn võ mồm vỗ mặt / Cứ câm câm điếc điếc ngơ ngơ / Tôi lớn lên chiến tranh đã tắt lâu rồi / Chuyện thường ngày người ta ít gọi nhau là “đồng chí” / Là “sếp” là “em” là những cuộc say bí tỉ / Là nụ cười như có lại như không / Là bán mua đổi chác lòng vòng / Lại nghe nói thời thị trường nó thế! / Trăm thứ bán mua không bằng đầu cơ mua ghế / Ghế nhỏ, ghế to, ghế còi, ghế mập, ghế lùn, ghế cao / Mua đi bán lại đầu ra đầu vào / Tham lam bạc đầu thường vào ghế đá…”

Với phong cách thơ thế sự của riêng Nguyễn Tiến Đạt, anh viết tiếp, đây là thời “thừa những cuộc đua xe, những cuộc thi mông thi ngực”, “rộn ràng chuyện lên lương lên chức / ngày hôm nay mấy triệu bạc là xong”, đây là thời của “những cô gái hát nhạc Tây và đếm tiền / mười ngón sen gõ computer nhẹ nhàng như cởi áo lên giường ngủ / câu ca dao mỏng tựa váy nhàu / để biểu đạt bài ca ‘hoàn cảnh’”. Mặc dù không thể phủ nhận mức tăng năng suất trên những cánh đồng, dân trí được nâng cao, nhưng phải thấy mặt trái của kinh tế thị trường, thời “mở cửa” là vẫn đáng ngại. Anh viết: “Thời tôi sống lúa chín vàng hơn trước / Những nông dân đọc sách và làm đồng / Lúc nhúc cử nhân đứng chờ ngoài hành dinh cơm áo / Chữ nghĩa bỏ thây trên những đống xương bò / Xin tạ tội cùng Nguyễn Du Nguyễn Trãi / Biết bao giờ tôi được khóc cùng ông?”.
Chàng nông dân – thi sĩ Nguyễn Tiến Đạt đã sống và viết về phố thị như thế.

5

Một đặc điểm của thơ Nguyễn Tiến Đạt, như đã trình bày, là tưng tửng. Có lẽ phải dùng từ cho thật chính xác tuỳ theo những cấp độ, cung bậc của chất giọng này, ngoài cái tưng tửng ấy. Đó là tiếu ngạo, là khinh bạc, là nói trạng, là cười ngông, là ngang tàng… Chữ của nhà văn Xuân Đức là “nói bông phèng” mà “cô liêu”, “thảng thốt”, ẩn giấu một tâm trạng trước cuộc sống hôm nay là nỗi niềm “bất ổn đáng sợ” (1). Nhưng tất cả cung bậc “trạng” ấy đều ở cùng hoặc ở bên cạnh giọng thơ tha thiết, chân thành và có chất trí tuệ của anh. Hàn Vũ Hùng, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Quang Lập đã rất tinh tế: “Đọc thơ Đạt cứ muốn khóc sau khi đã mỉm cười” (1).
Nói trạng, theo chữ Nam bộ của bác Ba Phi là nói dóc cho dzui. Nói trạng theo tiếng Bắc bộ là nói phét nhưng cho người nghe hiểu là nói phét để cười vui, chứ không nhằm lừa đảo, khoe khoang. Đó vốn là một đặc điểm của Quảng Trị tự nghìn xưa. Nay còn một làng nói trạng nổi tiếng khắp cả nước là Vĩnh Hoàng. Và thơ Quảng Trị xưa nay vừa trữ tình da diết vừa nói trạng chỉ có mỗi một Nguyễn Tiến Đạt. Ở thơ Trần Đình Túc, Nguyễn Văn Tường (hai đại thần, một chủ hoà, một chủ chiến, thời Tự Đức), thơ Chế Lan Viên, Phan Văn Dật (hai thi sĩ tiền chiến, một tập kết ra Bắc, một vào Huế giảng dạy ở Đại học Văn Khoa), Vĩnh Mai, Dương Tử Giang, Hồ Vi, Lương An (các nhà thơ kháng chiến chống Pháp), và về sau (thời Nam – Bắc chia cắt), thơ Nguyễn Thị Hoàng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phan Phụng Thạch, Lê Thị Mây, kể cả thơ tôi (Trần Xuân An) lẫn thơ những người thơ cùng thời với Nguyễn Tiến Đạt (thời Đất nước thống nhất)… tất thảy đều không có chất nói trạng đáng yêu đó. Hoàng Phủ Ngọc Phan cũng chỉ là một nhà văn thuộc trường phái Tú Xương, chứ không có chất nói trạng trong thơ.
Hầu như trong hai tập thơ của Nguyễn Tiến Đạt rải rác đều có chất nói trạng rất Quảng Trị.

… Hà Nội lần đầu tôi gặp
Ngẩn ngơ em đẹp mê hồn
Cái tiếng miền Trung trọ trẹ
Tôi làm sao nói chữ thương?

Liều mình đứng trên gác nhỏ
Hét vang như một gã khùng
Em chẳng thấy gì là lạ
Bước đi nào chút ngập ngừng

Chẳng lẽ mình lao xuống đất
Uổng đời danh giá thi nhân…
“Uổng đời danh giá thi nhân”!

Ồ, trạng đến rứa!
Dẫu đáng yêu là thế, bài thơ này vẫn còn có câu nói trạng hơi thô ở đoạn kết (“ta cùng Hà Nội ái ân!” – tôi hiểu, với cả Hà Nội, chứ không thèm với một cô nàng, nghĩa là không có gì xảy ra)! Ngoài ra, ngay ở đoạn trích trên, mặc dù nói trạng, nhưng là tự nhún mình cho khiêm tốn mà trạng, anh cho rằng giọng Miền Trung của anh “trọ trẹ”. Giá là tôi, tôi sẽ viết: Cái tiếng Miền Trung Việt cổ, hoặc Mường cổ, như các nhà nghiên cứu lịch sử ngữ âm học tiếng Việt đã đúc kết, việc gì phải tự trào với sự hạ mình như thế! Nhưng rồi ngẫm ra, đó cũng là một trong những biện pháp nghệâ thuật của phép nói trạng!
Phải nói là giọng thơ của Nguyễn Tiến Đạt bao gồm cả hai khía cạnh: có khi trữ tình thắm thiết; có khi vừa trữ tình vừa nói trạng một cách đáng yêu. Khía cạnh thứ hai trong phong cách thơ anh là rất độc đáo.

6

Tôi với Nguyễn Tiến Đạt có một vài kỉ niệm văn nghệ. Không những anh viết bài về thơ tôi và về tiểu thuyết tôi trên báo, Nguyễn Tiến Đạt còn cắt ra từ báo, đồng thời viết thư gửi kèm từ Quảng Trị quê nhà vào. Quý tấm lòng của anh, cho đến nay, tôi vẫn còn giữ lá thư ấy. Tôi không ngờ đó là những dòng chữ cuối cùng anh viết cho tôi.

“Đông Hà, 5 - 11 - 1999
Anh An kính mến!
Bữa trước em có nhờ anh Hà Đình Nguyên và Thanh Bình (báo Thanh Niên), gửi tặng anh tập thơ Khúc hát tình tang của em do NXB. Văn Học ấn hành. Không biết anh đã nhận được chưa?
Về những cuốn tiểu thuyết của anh (***), em đã đọc ngấu nghiến và rất thích. Sức viết và sáng tạo của anh thật mãnh liệt. Ở báo Quảng Trị, em chỉ giới thiệu đôi lời, không đi vào phân tích thủ pháp mà chỉ dừng lại ở cảm nhận (****) . Em viết trong khi cơn lũ quê nhà xảy ra. Vì thế bài viết này cốt ở tấm lòng nhớ đến anh, chứ không phải là bài nghiên cứu. Được giới thiệu anh với quê hương là một điều vui rồi.
Em gửi báo để anh làm kỉ niệm. Chúc anh sáng tác nhiều và thực sự trở thành một tác gia. Hiện nay em là biên tập viên Báo Quảng Trị, công việc lai rai cả ngày.
Điện thoại của em tại cơ quan: (053) 852528 – 853418; nhà riêng: 852040.
Thế nhé. Chúc anh khoẻ. Cho em gửi lời thăm anh Nghiêm và bạn bè.
(kí tên)
Nguyễn Tiến Đạt”

Đó là tấm lòng của Nguyễn Tiến Đạt với văn chương và anh em, bạn bè. Tấm lòng ấy thể hiện một cách chân thành trên trang thư anh viết.
Trước đây, khi Nguyễn Tiến Đạt còn sống, mãi bận bịu những công việc nghiên cứu, sáng tác, tôi nào kịp viết gì về thơ anh! Lúc này, tôi những muốn viết thật kĩ, thật đúng về thơ Nguyễn Tiến Đạt hơn nữa, như một chút đáp tạ. Có điều, chắc chắn Nguyễn Tiến Đạt cũng chẳng mong sự thù tạc tầm thường. Anh chỉ cần những thẩm định chính xác, đúng mức. Nén đi những xúc động riêng tư, tôi nghiêm túc viết về thơ anh, có chỗ lại nỡ lạnh lùng chê một vài khuyết điểm mà Nguyễn Tiến Đạt không còn cơ may nào để sửa chữa được nữa! Biết làm sao được! Với thơ anh, tôi vẫn giữ lòng và giữ phím máy vi tính như đối với một tác giả quá cố, thật tâm tôi yêu thích, quý mến và luyến tiếc.
Nhưng dẫu sao đi nữa, đây là nén hương tôi chân thành tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Tiến Đạt.

TP. HCM., khởi viết từ khoảng 14 giờ ngày 17. 9. HB4;
viết xong vào lúc 17 giờ 42 phút ngày 19. 9. HB4
(06. 8. Giáp thân HB4, sắp đến tiết Trung thu).
TRẦN XUÂN AN

(1) Nhiều tác giả, Còn đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 11.
(*) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 1, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 13 – 16, 87 – 93, đặc biệt là tr. 98 – 99; xem thêm: Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 197 – 199.
(2) Nguyễn Tiến Đạt, Người đi nhặt cuội, tập thơ, Nxb. Thanh Niên, 1996 & Khúc hát tình tang, tập thơ, Nxb. Văn Học, 1999.
(3) Lê Đức Dục, Thương tiếc nhà thơ Nguyễn Tiến Đạt, báo Tuổi Trẻ TP. HCM., số ngày thứ năm, 26. 7. 2001, tr. 9.
(4) Khúc hát tình tang, sđd, tr. 15: Nguyên văn: “Sao thời bé quá, trăng thời vơi”. Thời là âm khác của hư từ thì. Tôi ngờ rằng có sự sai về lỗi in ấn, hoặc Nguyễn Tiến Đạt có ý tập cổ với giọng điệu cuồng sĩ ngày xưa.
(5) Người đi nhặt cuội, sđd., tr. 23: Nguyên văn: “Chúng con sinh ra bên dòng sông, những dòng sông / Rúc ráy thân hình Người tìm con tôm con tép / Những vỏ cua hoá thạch ánh ngân hà / Những mẻ lưới từ bụng mạ đầy con rô con chép / Nhắc huyền thoại hoá rồng chở bùn đất bay xa!”.
Theo tôi, cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong phương thức ẩn dụ luôn luôn phải khớp với nhau, đồng thời cùng tạo ra hiệu quả thẩm mĩ. Nếu không, về mặt nghĩa đen của cái diễn đạt sẽ rất buồn cười, phản cảm. Lẽ ra, nên thay “thân hình Người” và “bụng mạ” bằng “Sông Mạ”. Đó là một cách sáng tạo biện pháp tu từ: rút gọn nhan đề, sử dụng như một danh từ riêng (tên sông, như Sông Cái…; tên thác, như Thác Bà, Thác Ông…). Như thế, có lẽ sẽ đạt hơn một chút nào chăng.
(**) Áo quần Jeans hay còn gọi là áo quần bò hoặc rin-bò (vì nguyên là trang phục bảo hộ lao động của giới chăn bò, cowboy; nay đã thịnh hành trên khắp thế giới) (TXA. chú thích).
(***) Gồm cả các bản thảo tiểu thuyết chưa in. (TXA. chú thích).
(****) Trần Xuân An, Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999. Nguyễn Tiến Đạt gạch chân. (TXA. chú thích).

Đã gửi:

Võ Văn Luyến (22. 9. 2004) để nhờ chuyển đến:
1. Tạp chí Cửa Việt
2. Gia đình Nguyễn Tiến Đạt.



_________________________

Bài thứ tư

ĐỌC THƠ PHAN VĂN QUANG

1

Hồi còn là sinh viên, bên một vài quầy báo ở Huế, tôi đã đọc loáng thoáng thơ tình Phan Văn Quang trên những tạp chí văn nghệ được ấn hành tại Sài Gòn. Sau Ngày Thống nhất khoảng hơn hai năm (vào đầu học kì 2, năm học 1977 – 1978), trên một chuyến xe khách từ Đông Hà vào Huế giữa đợt thực tập sư phạm, tôi không ngờ người ngồi cách mình không xa, lớn hơn tôi khoảng sáu, bảy tuổi, chính là anh. Hẳn anh có một vài người em, người cháu học ở Trường Cấp III Đông Hà, nên qua đó, Phan Văn Quang biết tôi, và anh ngỏ lời chào.
Có thể gọi đó là một chút cơ duyên văn nghệ.
Mãi đến khi Phan Văn Quang đảm trách công việc phát hành tạp chí của toà soạn Cửa Việt, tại Thành Cổ, thị xã Quảng Trị, tôi mới có dịp cùng anh thân quen, nhất là những dịp anh vào Hải Lăng, một huyện gần đó.
Đúng như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu ở đầu tập thơ riêng Ta ôm một nửa đời luân lạc: “Phan Văn Quang là một nhà thơ thuộc ‘trường phái phong trần’ kia mà tôi may mắn được đánh bạn trong những ngày trở lại cố hương; gương mặt chì bởi nhiều màu nắng, áo cũ bởi nhiều bụi đường, và thơ mang không gian rộng của những phương trời”; “Đọc tập thơ đầu tay của Phan Văn Quang, dù mỏng thôi, tôi tin anh là thi sĩ” (1).
Chất thi sĩ của Phan Văn Quang chỉ có thể nhận biết lúc đọc thơ anh, và đặc biệt là lúc nghe anh đọc thơ. Giọng nói anh thường khi là khá nhanh, nhanh đến nỗi nuốt chữ, ngỡ như anh luôn luôn tất bật, hối hả đến hụt hơi, nhưng giọng đọc thơ của Phan Văn Quang lại trầm lắng, da diết.
Đọc thơ của một người thơ dám bảo với cuộc đời như tự nhủ với trái tim mình rằng, Ta ôm một nửa đời luân lạc, tôi không thể không nhận ra lòng yêu đời của Phan Văn Quang, cho dù nửa cuộc đời anh trải qua là trôi nổi, chìm đắm.
Tôi không nghĩ điều cảm nhận đầu tiên đó chỉ là ấn tượng về một con người mà tôi được quen thân, nhiều lần gặp gỡ, chuyện trò, trà rượu, ngâm hát, rong chơi. Không, điều đó thể hiện rất rõ ngay trong chính hai tập thơ anh đã xuất bản (2).
Phan Văn Quang là một nhà thơ thuộc “trường phái phong trần”, vất vả, cực nhọc suốt “một nửa đời luân lạc”. Đúng vậy, cho dù phải trải qua “một nửa đời luân lạc”, anh vẫn muốn thiết tha ôm ghì lấy quãng đời ấy, không chối từ, phủ nhận nó bao giờ. Anh đã viết: “Bạn tôi nói: dù nghèo đói mấy cũng đừng chê đời. Vợ tôi nói: dù nghèo đói cũng đừng xa nhau. Con tôi nói: dù nghèo đói cũng đừng bỏ con. Vì những lẽ đó tôi đã làm thơ và sẽ mãi mãi làm thơ” (3). Ngẫu nhiên trùng hợp, Phan Văn Quang không chỉ yêu đời như một quan niệm của Hermann Hesse, một nhà văn Đức từng đoạt giải Nobel văn chương: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này” (4). Ở Phan Văn Quang, không có sự đổ vỡ tan hoang, trầm trọng về niềm tin vào cuộc đời, về lí tưởng, lẽ sống, hệ giá trị như Hesse và thế hệ nhà văn Đức, Phương Tây, sau Đệ II Thế chiến. Ở anh, anh cũng như bạn anh, lòng yêu đời trong cơ cực được diễn đạt là “đừng chê đời”, chứ không phải là đừng chán đời (đừng yếm thế) – hai chữ “chán đời”, thường thấy trong thơ sĩ phu Đàng Ngoài ôm mối hận “phù Lê” như Phạm Thái (thời Quang Trung), Cao Bá Quát (thời Tự Đức)… Thơ Phan Văn Quang ngoài ý thức và tâm niệm “đừng chê đời”, còn thể hiện tình nghĩa và trách nhiệm trong hoàn cảnh nghèo đói, mặc dù anh chỉ dám khiêm tốn gói gọn trong chức năng người chồng, người cha, và cao quý hơn thế, là người thơ.
Yêu đời, tình nghĩa và trách nhiệm, cho dẫu cơ cực, phải chăng là những nét chủ đạo trong hai tập thơ Ta ôm một nửa đời luân lạc và Mưa nắng quanh đời?

2

Thật ra, Phan Văn Quang không viết nhiều về những cơ cực, khốn khổ của suốt nửa cuộc đời nổi trôi, chìm đắm. Trong hai tập thơ, chỉ nổi lên một tứ thơ gây cho tôi cảm giác gần như ớn lạnh ở một bài thơ rất ngắn. Tôi nghĩ, phải đau đớn đến quằn quại và ý thức sâu sắc về nỗi đau ấy, Phan Văn Quang mới có thể viết Bong bóng bay, cái đầu đề cứ ngỡ như trong ngần niềm vui thơ dại.

Sân bóng loạn chân người
Tung những đường banh hồ hởi
Chiến thắng thuộc phần ai?
Không khí căng lồng ngực
Vỏ da nào bọc lấy thân tôi?

Còn phút nao lòng
Sân xanh sang màu tím
Người chạm người
Chân ứa máu
Tôi mơ thành bong bóng bay (5).

Đây là bài thơ không chỉ độc đáo và sâu sắc ở tứ thơ, không chỉ khắc ngay vào lòng người nhờ tứ thơ, mà cả ngôn từ cũng rất ấn tượng, mặc dù rất dung dị một cách sinh động. Nửa cuộc đời luân lạc, lăn lóc, như quả bóng trên sân cỏ cuộc đời, bị những cầu thủ của hai đội tranh đoạt để đá bật, đá vòng, sút, lừa, đạp; nếu có dùng đầu thay chân thì cũng là một động tác đánh, húc. Hình ảnh quả bóng cho dù được khắc chạm vào cúp hoặc cúp được đúc theo hình ảnh quả bóng, thì vinh quang chiến thắng cũng thuộc về cầu thủ chứ chẳng thuộc về nó. Quả bóng chỉ là phương tiện của cầu thủ! Và nếu mươi lần “người chạm người, chân ứa máu”, thì hẳn quả bóng còn bầm dập muôn vạn lần hơn thế bởi hàng vạn, hàng vạn cú đá, cú húc. Không có thân phận nào bi thảm như thân phận quả bóng. Phan Văn Quang ý thức được thân phận mình giữa đời một cách bi thảm. Nhưng viết về niềm bi thảm, thơ anh vẫn cứ như không, không có ngôn từ thảm thiết, cay đắng, mà tự thân hình tượng – tứ thơ trong trọn bài thơ thể hiện ra, tạo nên một hiệu quả sâu, mạnh.
Ở câu kết là cả một khát vọng hoá thân, khát vọng đổi đời, khát vọng thoát kiếp, chính xác hơn là khát vọng được trở về với tuổi thơ với ước mơ bay cao giữa trời bát ngát, lồng lộng và khoáng đạt, cho dù chỉ bay bổng vài giờ ngắn ngủi, bong bóng bay cao mơ ước giữa trời kia rồi sẽ xì vỡ, rơi rụng. Chính khát vọng được đào thoát khỏi thân phận, “trốn” về với tuổi thơ, khiến người đọc trào nước mắt.
Bong bóng bay là bài thơ cực kì hàm súc, mộc mà tân thức (modern-style). Tôi cho rằng, đó là tuyệt tác của thơ Phan Văn Quang. Rất tiếc phong cách chủ đạo của thơ anh không phải thuộc thi pháp ấy.
Hình như trước khi đi đến ý thức bi đát về thân phận đó, người thơ Phan Văn Quang phải trải qua những giờ phút, những ngày tháng đối diện với chính mình. Anh không là Narciss, tự say mê bóng mình. Anh không hẳn là Bồ Đề Đạt Ma, chín năm đối diện với bức vách để suy ngẫm, tìm ra bổn lai diện mục. Hẳn tâm thức anh cũng không như một nhà văn nữ xứ Huế Tuý Hồng vốn nổi tiếng về bút pháp táo bạo, có một lần “tôi nhìn tôi trên vách”. Nhưng ai lại không có lần phải nhìn lại chính mình, soi rọi vào tận cõi sâu thẳm nhất của mình, theo cách của mình! Và vấn đề là ở đó: theo cách của riêng mình.
Phan Văn Quang không thuộc vào phân số người trong xã hội Việt Nam trải qua những cơn bão táp cách mạng và bão táp đổi mới trong tâm thức chăng? Tôi không tin vậy. Người thơ này đã từng Hoang mang, trong một khu rừng sâu, bên bờ suối vắng, để đối mặt với chính mình, với cung cách rất Phan Văn Quang:

Bên suối lặng mình soi đáy nước
Trong trời chiều sinh động hai ta
Bóng nhìn ta và ta nhìn lại
Giữa thinh không hai đứa khóc oà (6).

“Trong trời chiều sinh động (? sinh – động? sinh – đọng? sánh, đọng?) hai ta”. Chữ không diễn đạt được gì, chỉ là chữ thừa. Tôi ngẫm nghĩ, có thật hai chữ “sinh động” này đã rất thừa, và làm hỏng một bài thơ tuyệt hay? Nhưng dẫu sao, nhìn trên tổng thể, bài thơ bốn câu Hoang mang rất hay này đã thể hiện được tâm trạng của một người vốn không có ý định chủ động đối diện với chính mình, mà chỉ là lúc tình cờ “soi đáy nước”, bất giác thấy bóng mình nhìn mình, và anh nhìn lại bóng. Người cùng bóng người nhìn nhau, cùng bật oà ra tiếng khóc trong niềm hoang mang. Thật ra, người thơ tự khóc oà về mình đó thôi, sau nhiều tháng năm không một lần nào có dịp soi gương ngắm lại mình, chợt thấy mình già đi, gầy khô, hốc hác hẳn đồng thời đã vong thân (tha hoá), trót mang “khuôn mặt người khác” như một nhân vật Nhật Bản của Kôbô Abê (Kobo Abé) (*), hoặc tha hoá như hình tượng tên lính phát xít Đức “lạc lối về”, Henrich Boll (**) đã khắc hoạ.
Đó phải chăng là lúc Phan Văn Quang nhận ra mình, ở một bài thơ khác (Theo chim về biển), và người thơ rong ruổi cùng cánh chim nào về với cát trắng, sóng biếc, “chim bay về từ những đồi hoang / chiều lên xanh hồn ta một cõi / trong nửa đời còn nặng hoang mang”. Nhưng rốt cuộc, anh vẫn rơi vào tâm trạng bi kịch khác, mặc dù nhận thức rõ về thực trạng của mình hơn: “đánh mất nửa đời không vốn liếng / như tuổi vàng mất biệt tăm hơi / chiều nay trên rừng ta khản giọng / hiu hắt lòng – rượu uống mềm môi” (7).
Hoang mang là trạng thái không thể định hướng, không phân biệt được chân – giả. Nhưng ở Phan Văn Quang, đó không phải là tâm trạng thường trực. Anh tìm cách hoá giải sự khủng hoảng trong tâm thức mình, chỉ bằng một chút thiền, chút vô vi bất nhi bất vi trong một công việc bình thường, giản dị nhất:

Bồng cháu chú chạy khơi khơi
Bé cười làm thẹn biển trời xanh lơ
Ồ! Một điều rất trẻ thơ
Mà ta xuôi ngược bơ phờ tóc râu.
(Trẻ thơ (8))

Nụ cười trẻ thơ hồn nhiên làm xấu hổ cả đất trời hồn nhiên, đối với Phan Văn Quang lúc ấy, là cả một chân lí cuộc sống lớn lao, sâu thẳm mà vô cùng đơn giản.
Cuối cùng, Phan Văn Quang nhận ra một nẻo đường dấn thân, tích cực hơn. Bài thơ có nhan đề được chọn làm tên cho cả tập, Ta ôm một nửa đời luân lạc, tuy vẫn còn hằn nỗi cuồng ca, “thấp thoáng ngoài khơi thuyền ngược sóng / trong này ta cất giọng cười khan”, nhưng đã hi vọng, “có mở được lòng xưa khuất lấp”, cho dù “trăng yên mây kín tự bao giờ”. Ấm lòng thay, khi anh tìm ra hạnh phúc ngỡ đã mất:

Nhớ thuở xa người – xa rất mực
Chớm xuân tin trổ ngọn bên đồi
Áo xưa trăng loãng ngời như lụa
Thấy lòng phai giữa bóng trăng phơi

Đôi lần ghé thăm người em gái
Thiếu nữ thương ta, ta rất thương
Hạnh phúc nào xanh lòng luân lạc
Khi trăng về ngủ muộn cuối đường (9).

Ngay cả những lúc cơ khổ nhất, anh vẫn có một ý thức trách nhiệm, và cũng may mắn thay, lại là trách nhiệm trong tình yêu đương, hạnh phúc. Kỷ niệm rừng sáng bừng một trời tươi sáng:

… Sau ba ngày mưa dầm
hôm nay trời thơm nắng
Anh lên rừng hái củi
cùng tình yêu em rực rỡ trong lòng
Bài hát hôm qua ngân dài núi đồi
mênh mông
Ồ lá và hoa thi nhau hoà với chim với suối
Mo cơm, túi nước ngất ngưỡng trên vai
theo chân anh bước đuổi… (10)

Bài thơ viết dưới chân thành cổ cũng thể hiện điều đó với tất cả sự chắt chiu, trân trọng, trìu mến:

Thoang thoảng hương đời thơm tóc em mùi cốm
Thiết thực vô cùng anh làm việc hăng say.

Ngôi trường thơ ấu, chừ ngói đụn rừng lau
Anh mở lòng theo mười ngón tay mau
Ở nơi này cũng còn ít nhiều viên gạch tốt
Mồ hôi thấm hai lần áo trong ngày nắng đốt
Anh nghĩ xây dựng quê hương
cũng từ những điều nhỏ nhặt vô cùng
Vài viên ngói cũ sẽ đậm màu ngôi trường mới
Trong bữa cơm chiều nay
Có mẹ già và em trai còn đi học
Anh miên man nói chuyện ngày mai
Chắc như bắp, như một cộng một là hai
Gạo sẽ có, lòng sẽ vui, bàn tay này cày cấy
Từng giọt mồ hôi từng hạt giống tương lai (11).

Tôi không rõ những nỗi đau trong nửa đời luân lạc có lần suýt quay về làm quằn quại lòng anh, lần ấy xảy ra vào thời điểm nào. Lúc anh đã hạnh phúc? Lúc anh còn cơ khổ? Chắc chắn ấy phải là những tháng ngày cho dù có hạnh phúc nhưng chưa thật ổn định trong công việc làm ăn kiếm sống. Bấy giờ, Phan Văn Quang vẫn còn lặn lội giữa rừng hoang nước độc, tìm miếng ăn cho mình, cho con, dẫu biết “ăn của rừng, rưng nước mắt”. Đây là hình ảnh một toán “ngậm ngải tìm trầm” hay “đãi cát tìm vàng” một thuở khó khăn chung:

“Trải chiếu giữa sàn / Mưa chém vào phên nứa / Chai rượu đứng nghiêm chào những người bạn cũ / Đĩa mồi mấy con mực nằm nghiêng / Xưa như trái đất vẫn còn thằng áo rách / Manh chiếu lủng tròn thành chiếc mâm / Lúc nhúc những chiếc li cụng vào đêm sâu / Vỡ mặt – tháng năm dài / Niềm vui vô tình lấp sau liếp cửa / Sợ chạm phải nỗi đau xưa… // Ngoài hiên, mưa / Chiếc dép, chiếc giày ngả nghiêng bên vệ cỏ / Ngủ say”
(Tĩnh vật sống (12)).

Dăm bảy năm nay, Phan Văn Quang cũng thôi làm công việc phát hành ở toà soạn tạp chí Cửa Việt, anh cùng vợ mở quán cháo bột cá tràu (cháo bánh canh cá lóc) ngay tại nhà ở thị xã Đông Hà. Có lẽ thời đoạn này là thật sự ổn định, ổn định nhất trong đời anh. Tuy vậy, là một nhà thơ, anh không thể ngủ vùi trong sự yên ổn đó – sự yên ổn có thời Chế Lan Viên đã phê phán, “một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”.
Ở tập thơ thứ hai, Mưa nắng quanh đời, có bài vẫn chứa chất một nỗi suy tư, thao thức và trăn trở, nhất là niềm tự vấn của người cầm bút, vốn được tôn vinh là dám mang thiên chức chứng nhân của thời đại. Đó là nỗi niềm ở một ngày mùa xuân, khi chợt nhớ thi sĩ Phùng Quán chăng?

“Vắt cạn kiệt bã cơm / từ hạt gạo tháng mười / Chắt mạch nước đỏ bùn phèn váng vất / Khơi chút lửa / chuốc men nồng lên mắt / Trước ngày xuân ngồi lại tự vấn mình // Rượu đầu môi sẽ là phút lặng im / Thiếu vắng quá tiếng chim đầu núi / Đêm sâu thẳm níu vì sao chợt tắt / Ngã lòng đời, chạm mặt những vần thơ // Uống rượu làng với chân dung người xưa / Tâm đựng phải nỗi lòng cay cực / Xin cạn chén phơi bày lòng chân thật / Hẹn một ngày / tưới rượu xuống Hồ Tây”.
(Uống rượu với chân dung Phùng Quán (13))

Nhân Ngày Thương binh – liệt sĩ 27. 7. vào năm 1997, Phan Văn Quang có dịp ra Hà Nội, anh viết về một liệt sĩ của thi ca, một đời anh kính mến, ngưỡng vọng:

Ngắm sóng Hồ Tây, Hà Nội phố
Rưng lòng tưởng nhớ một nhà thơ.
(Lang thang chiều Hà Nội (14))

Tââm hồn thơ Phan Văn Quang không “chê đời”, như bạn anh nói và anh xem như tâm nguyện của chính anh, cho dù phần số anh vất vả, long đong, cơ cực, chỉ mới thư thả trong dăm bảy năm gần đây về cơm áo. Tôi không nghĩ Phan Văn Quang sống theo triết thuyết “an bài định phận”, mà anh cố sống “an bần lạc đạo”, vì cái chí của nhà thơ đâu phải là miếng cơm manh áo, cho dù một thi sĩ tiền chiến đã viết, “cơm áo không đùa với khách thơ”, và ở đây, “lạc đạo” là vui với “Thi đạo” . Phùng Quán, thi ca và Chòi Ngắm sóng của ông không phải là biểu tượng về một liệt sĩ của thơ ca (dám sống vì thơ, dám chết cho thơ, chung quy chính là sống chết vì nhân dân, đất nước), trong thơ Phan Văn Quang đó sao!
Nhưng giữa lòng kính yêu, ngưỡng vọng Phùng Quán và dám sống chết như Phùng Quán là cả một khoảng cách rất rộng. Điều đó, hầu như đối với ai cũng vậy. Có phải vậy không, anh Phan Văn Quang thân mến?

3

Nhà thơ Phan Văn Quang của Quảng Trị gió nóng, xương rồng, cát trắng không chỉ thế. Ở anh, còn phần tâm hồn thơ của nỗi ngậm ngùi, thương nhớ kỉ niệm, của những nét đẹp buồn. Có một chùm thơ anh in ở cả hai tập! Phải chăng đó là những bài anh yêu nhất, tuy có bài chưa hẳn là hay nhất?
Quả thật, Tháng sáu Pleiku là một bài thơ đẹp, đẹp và buồn, cái buồn rất đẹp. Đó là một phần trong tuổi trẻ luân lạc Phan Văn Quang.

“Ở Pleiku trời như sương khói / Áo màu xanh, xanh lá ven đường / Ta cũng thấy má người au đỏ / Còn tóc chừng ngai ngai mùi hương / / Nhà em đầu, nhà anh cuối phố / Mà mấy khi đều đặn tìm nhau / Kìa nhà em bông chi ngoài ngõ? / Ngập ngừng lòng quên bỏ lại sau // Em yên ổn quanh đời che chở / Khoảng vườn xanh, cửa thép im lìm / Một cây thông già lêu nghêu đứng / Chiều nay thêm một bóng lặng thinh // Ở Pleiku buồn khi đêm xuống / Nghe rất thèm một mái nhà êm / Nghĩ rằng ở đây hoài cũng lạnh / Ta về buồn ấp ủ hơi đêm // Tháng sáu Pleiku đầy hơi nước / Ta lang thang như kẻ cùng đường / Mới biết ta có thời tạo nghiệp / Ở Pleiku – tình tan như sương” (15).

Đọc thơ Phan Văn Quang, Tháng sáu Pleiku, tôi hiểu thêm vẻ đẹp của nỗi buồn trong veo, tôi chợt ngộ ra một điều giản dị mà sâu sắc nhất của lẽ đời: Trong hoàn cảnh nào đi nữa, lòng người vẫn còn có thể phát hiện, bắt gặp, trải nghiệm cái đẹp buồn, cái buồn đẹp, có khả năng làm thăng hoa trái tim người, vốn tiềm tàng trong cuộc sống, ngay cả trong cảnh nổi trôi, chìm đắm, cơ cực và bị đẩy vào tình trạng “đau đớn đến quằn quại”, nói như Hermann Hesse, nhà văn Đức.
Ngậm ngùi rời Huế cũng in hai lần ở hai tập. Bất kì ai cũng không thể không bâng khuâng, rưng rưng cảm động khi đọc, như thể đọc lại kỉ niệm của chính mình:

“Ở đây ta buồn và mây thấp / Như sân ga lặng lẽ mưa về / Nặng tình – Huế cho người đưa tiễn / Nặng ân – ta có hẹn quay về // Ra đi răng nghe lòng nằng nặng / Trong mắt em ủ kín một đời / Còi hụ, tàu lên đường tháng chạp / Huế thì mưa bát ngát đất trời // Nhìn em qua chiều không rõ mặt / Làm răng ta khỏi nhớ trời mưa / Có em đứng buồn như cây rũ / Nghe trong ta tình đã giao mùa // Huế ơi qua được bao mùa bướm / Bướm bay loáng thoáng những con đường / Vãng (***) đường tan trường nhiều con gái / Vãng hồn em trong Huế tang thương // Ra đi còn nhớ đò Thừa Phủ / Nhớ sông Hương mưa trắng một dòng / Gửi lại em người tình thơ dại / Trọn một đời hoa bướm thong dong” (16).

Hoá ra, thơ với những suy nghĩ, cảm xúc đẹp dung dị, với một hệ ngôn từ, nhạc điệu đẹp đơn sơ, lại thấm thía vào lòng đến thế.
Đúng ra, nhìn trên tổng thể, thơ Phan Văn Quang thiên về khuynh hướng thẩm mĩ thi ca này (chứ không phải khuynh hướng thẩm mĩ thi ca “đời”, “phong trần” – gió bụi), tuy có nhiều bài chưa đạt như thế hoặc ở những cung bậc khác. Chưa đạt như thế là hạn chế, nhưng ở những cung bậc khác lại là sự đa dạng, phong phú của một phong cách thơ.
Kể thêm về khuynh hướng này, Phan Văn Quang còn có nhiều bài khá hay. Trong đó, có hai bài thật sự có tứ: “Con còng bướng bỉnh của tôi ơi!” (17), “Cõi riêng” (18).

4

Một cách đương nhiên, thơ Phan Văn Quang đã làm phong phú thêm nền thi ca Quảng Trị vốn chưa phải là đã có bề dày, tuy có những đỉnh cao vòi vọi (thơ Chế Lan Viên chẳng hạn). Trong công cuộc Đổi mới gần hai thập niên qua, cũng như tại các tỉnh khác trong nước, ở Quảng Trị đã xuất hiện hoặc xuất hiện lại những nhà thơ thuộc về nhiều hoàn cảnh, số phận khác nhau. Nhờ vậy, nền thi ca Quảng Trị và nói chung, thi ca Việt Nam, thật sự thoát khỏi “nền văn học quan phương” đơn thuần, hoặc như ai đó đã mỉa mai phát biểu: thoát khỏi “nền văn học cán bộ” đơn điệu, duy nhất một “chuẩn mực”. Và cũng nhờ vậy, thơ dần dần tiến đến một chân lí vốn được đúc kết, tôn vinh tự bao giờ trong sách giáo khoa và trong xã hội: Văn chương nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, là tấm gương phản ánh trung thực xã hội, thời đại, theo cách của nó. Thơ Phan Văn Quang phản ánh được những “góc nhân dân” nhưng thật ra rất tiêu biểu, rất điển hình, bên cạnh những gì tiêu biểu, điển hình khác, có thể gọi là các “góc chính thống”, của Quảng Trị và của cả nước ta.
Đọc thơ Phan Văn Quang, tôi cảm nhận được một tâm hồn thơ, hình dung được một người thơ chỉ có thể xuất hiện ở thời đoạn lịch sử trước và sau ngày sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, sông và cầu Thạch Hãn bị chia cắt, lại được nối liền, cho đến hai thập niên Đổi mới. Thiếu đi một nhà thơ Phan Văn Quang là cả một thiếu sót không gì bù đắp được.
Có một Phan Văn Quang như thế trong thơ, và rất nhiều Phan Văn Quang như thế trong đời. Thơ Phan Văn Quang đã nói lên bao tâm trạng, nỗi niềm, thay cho rất nhiều Phan Văn Quang thầm lặng khác. Nếu không có Đổi mới (công cuộc Đổi mới cần phát huy mặt tích cực), thơ ca sẽ nghèo nàn, đơn điệu biết bao, và “thơ ca như một tấm gương phản ánh trung thực xã hội, thời đại” cũng khiếm khuyết biết bao!
Nhà văn và cũng là nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về Phan Văn Quang: “Thi sĩ là người duy nhất trên đời biết ‘cảm ơn sương mù’. Tôi thì cảm ơn Phan Văn Quang, đã lưu ý về những gì tôi đã có, đã hờ hững quên, và bây giờ tìm thấy lại” (19). Tôi thấy cần viết thêm về anh như đã viết, bởi “sương mù” không phải là tất cả Phan Văn Quang. Qua thơ anh, tôi thấy sáng lên chất “đời”, chất “sử”, một thứ ghi chép xã hội học, sử học sống động về một phân số nhân dân – xã hội, về một địa phương đất nước – thời đại, mà chỉ có thơ ca mới có thể phản ánh được, theo cách của nó (bao gồm cả yếu tố chủ quan, cá nhân, cảm tính). Đó là xã hội, lịch sử qua tâm trạng thi ca của một con người chỉ hiện hữu ở một vùng đất, một thời đại nhất định. Nói như thế, không có nghĩa thơ Phan Văn Quang là thơ ca kí sự! Không, Phan Văn Quang là nhà thơ Quảng Trị trữ tình đích thực, đúng nghĩa.
Tôi cảm ơn Quảng Trị đã có một Phan Văn Quang. Đó là một Phan Văn Quang học trường làng, trường tỉnh; bị bắt làm lính ngụy, được giũ bỏ áo lính ngụy; trở về cày ruộng, phát rẫy, tìm trầm, đãi vàng; sau nửa đời trôi nổi, chìm đắm, cơ khổ, lam lũ, tất bật, anh đã đảm trách việc phát hành tạp chí văn nghệ cách mạng, rồi bán cháo bột cá tràu ở nhà, được bầu làm phân hội trưởng Phân hội Văn học thuộc Hội Văn nghệ Quảng Trị. Đồng thời, đó cũng là một Phan Văn Quang đau đớn, khóc cười, tỏ tình, yêu đương, hạnh phúc, uống rượu, suy tư, thao thức, hi vọng… theo cách của riêng anh và bạn bè anh (trong đó có tôi). Một Phan Văn Quang ấy với bao nhiêu cảnh huống, tâm trạng khác nữa! Như mọi nhà thơ khác, tất cả những gì Phan Văn Quang từng nếm trải bằng chính bản thân, đã và sẽ được trái tim anh tinh lọc để trở thành thơ ca. Mai sau, sẽ có những lớp người hình dung lại: Có một nhà thơ thuộc “trường phái phong trần”, tốt nghiệp “đại học cuộc đời” như Macxim Gorki (20) như thế, một phân số thế hệ như thế, một thời đại ở một vùng đất Quảng Trị quê nhà như thế với những tập thơ như thế.

TP. HCM., khởi viết từ 14 g ngày 29. 9. 2004;
hoàn tất lúc 16 giờ 54 phút, ngày 30. 9. 2004
(17. 8. G. thân HB4);
sửa chữa xong lúc 09 giờ 35 phút ngày 01. 10. HB4.
TRẦN XUÂN AN


(1) Phan Văn Quang, Ta ôm một nửa đời luân lạc (TÔMNĐLL.), tập thơ đầu tay, Hoàng Phủ ngọc Tường đề tựa, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 3 – 4.
(2) Phan Văn Quang, Mưa nắng quanh đời (MNQĐ.), tập thơ thứ hai, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1997.
(3) Nhiều tác giả, Còn đây thương nhớ, tuyển tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1993, tr. 64.
(4) Hermann Hesse (1877 – 1962), Câu chuyện dòng sông, giải Nobel 1946, bản dịch Phùng Khánh & Phùng Thăng, Nxb. Lá Bối & Nxb. An Tiêm, bản in lần thứ 6, 1974, tr. 5. Theo lời giới thiệu đầu sách (ở một trong sáu lần xuất bản), Câu chuyện dòng sông đã trở thành Thánh Kinh mới của mấy thế hệ tuổi trẻ Tây Đức và Phương Tây, sau Đệ II Thế chiến, mặc dù nội dung cuốn tiểu thuyết này là sự tìm đến giá trị giáo thuyết Phương Đông (hình tượng nhân vật trung tâm là Tất Đạt [Siddhartha], một chàng trai trẻ từ bỏ Bà La Môn, quyết tâm tu khổ hạnh, rồi trở về với đời sống thương gia, tìm chân lí trong việc làm giàu, đánh bạc, chung sống với một kĩ nữ, sinh con, và để qua đó, nhằm học tập ở thực tế bằng chính sự trải nghiệm của bản thân về hạnh phúc – khổ đau – dục vọng; cuối cùng là sự giác ngộ Đạo Thiền – Lão Trang bên một bờ sông vắng). Việc xem Câu chuyện dòng sông là Thánh Kinh mới không phải là hiện tượng nhất thời của tuổi trẻ Tây Đức và Phương Tây sau Chiến tranh thế giới lần II do sự đổ vỡ đức tin Thiên Chúa giáo…
(5) MNQĐ., sđd., tr. 46.
(6) TÔMNĐLL., sđd., tr. 16.
(*) Kôbô Abê (Kobo Abé), Khuôn mặt người khác, Phạm Mạnh Hùng dịch, Nxb. Đà Nẵng – Nxb. Thanh Hoá, 1986.
(**) Henrich Boll (tác giả giải Nobel 1972), Lạc lối về, Huỳnh Phan Anh dịch, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM. tái bản, 1997.
(7) TÔMNĐLL., sđd., tr. 23.
(8) TÔMNĐLL., sđd., tr. 11.
(9) TÔMNĐLL., sđd., tr. 21 - 22.
(10) MNQĐ., sđd., tr. 37 - 38.
(11) MNQĐ., sđd., tr. 35 - 36.
(12) MNQĐ., sđd., tr. 23.
(13) MNQĐ., sđd., tr. 7.
(14) MNQĐ., sđd., tr. 52 - 53.
(15) MNQĐ., sđd., tr. 28 - 29.
(***) “Vãng đường”, “vãng hồn”. Đây là chữ “vãng” trong từ ghép thường dùng “lai vãng”, “khách vãng lai”, “lai vãng đường”, “vãng sanh đường”. “Vãng” là đến thăm viếng nơi nào đó, khác với “vãn” trong từ ghép “vãn cảnh”, có nghĩa là đến ngắm cảnh, mặc dù người ta vẫn nói, “vãng cảnh chùa”. Ở bài thơ trên, “vãng đường” chính là “lai vãng đường” (nhà thăm viếng ở một doanh trại…) hay “vãng sanh đường” (nhà phúng điếu còn đặt quan tài)? Và “vãng hồn”, có nghĩa là thăm viếng hương hồn người chết; câu thơ phải là: vãng hồn, em trong Huế đau thương? Đề nghị tác giả Phan Văn Quang đính chính lỗi in ấn.
(16) MNQĐ., sđd., tr. 11 - 12.
(17) MNQĐ., sđd., tr. 22.
(18) MNQĐ., sđd., tr. 34.
(19) TÔMNĐLL., sđd., tr. 4.
(20) Xem: Lời tựa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, TÔMNĐLL., sđd., tr. 3.

Đã gửi:
Võ Văn Luyến (01. 10. 2004) để nhờ chuyển đến:
1. Tạp chí Cửa Việt
2. Anh Phan Văn Quang.


_______________________

Bài thứ năm

ĐỌC THƠ NGUYỄN TẤN SĨ

1

Không phải mươi ngày, vài tháng, thấm thoắt đã ba mươi bốn năm, kể từ ngày tôi và Nguyễn Tấn Sĩ cùng nhau học chung một lớp (9. 1970), thân nhau từ thuở đó đến bây giờ (*a). Ngoảnh lại, ngẫm nghĩ với sự bình tâm, khách quan, vẫn thấy trong số những bạn thơ cùng lứa ở khắp nơi, Nguyễn Tấn Sĩ là một trong vài nhà thơ có phong cách rất riêng về ngôn từ thơ, mặc dù ngôn từ thơ là một mặt cực kì quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả đối với thi ca.
Bản thân từ phong cách không là gì cả, nhưng khi nó được sử dụng như một thuật ngữ văn học, người viết nào cũng không thể không cần cân nhắc, nhất là khi thuật ngữ ấy có kèm theo một vài định ngữ nào đó.
Tuy vậy, không còn phân vân, nghi ngại gì nữa vào sự thẩm định của mình, tôi có thể cầm lên hai tập thơ Nguyễn Tấn Sĩ đã xuất bản (1) để nói thật nghiêm túc với mọi người điều đó. Thật ra, cũng chẳng cần tôi khẳng định ngay điều này khi bắt đầu bài viết về thơ anh. Thơ Nguyễn Tấn Sĩ từ lâu đã tự trình bày ra trước người đọc bằng giấy trắng mực đen; và ai cũng biết rằng, người đọc uyên bác, có tài thẩm thơ và hoàn toàn vô tư trên đời này không phải là hiếm hoi.
Vâng, phong cách thơ Nguyễn Tấn Sĩ là rất riêng, xét về khía cạnh ngôn từ thơ. Điều đó, có thể nhận ra một cách dễ dàng khi đọc một hoặc cả hai tập thơ của anh. Ngôn từ thơ Nguyễn Tấn Sĩ hầu như khởi xuất từ tố chất bẩm sinh của riêng anh, lại được anh khai phá, sáng tạo. Phong cách ngôn từ thơ ấy định hình từ lâu, và vì thế, có thể nói là nhất quán.
Mặt trời và cơn khát (1991), Lời hát khẽ (2003) được Nguyễn Tấn Sĩ xuất bản ở hai thời điểm cách nhau đến 12 năm. Có chùm thơ anh viết từ những ngày còn cầm súng ở chiến trường Campuchia và về những ngày giỗ đồng đội đã hi sinh ở đó, vốn đã được in ở tập Mặt trời và cơn khát, lại được sửa chữa, bổ sung, in lại ở tập Lời hát khẽ. Ngoại trừ chùm thơ ấy, những bài thơ giữ tỉ lệ cao hơn ở hai tập hầu hết là thơ tình yêu đôi lứa và cảm xúc về những gì trong anh, quanh cuộc sống anh.
Mặt trời và cơn khát, ngay tên của tập thơ đầu tay, ta có thể thấy một Nguyễn Tấn Sĩ rất trẻ trung với những khát vọng cháy bỏng giữa một không gian, thời gian tràn ngập ánh mặt trời. Ở tập thứ hai, dày dặn hơn, số lượng bài thơ nhiều hơn, có cái tên rất trầm tĩnh của một nhà thơ tự nhận ra mình không còn trai tráng nữa, mặc dù vẫn còn chan chứa tình yêu cuộc sống: Lời hát khẽ.

2

Tôi vẫn còn nhớ những câu thơ đăng báo của Nguyễn Tấn Sĩ hồi anh còn học những năm cuối của bậc trung học:

sáng hôm nay trên tường vôi hạnh phúc
chút lá xanh đã mọc tự bao giờ
ta nghe lòng mình vui hơn thuở trước
một thuở, ô hay, quá dại khờ! (*b)

Đó là những câu thơ học làm người lớn của một người thơ mười bảy tuổi! Nếu lúc này, anh in lại, không đề năm sáng tác cuối bài thơ, người đọc sẽ ngỡ Nguyễn Tấn Sĩ mới viết. Nhưng điều tôi có thể cảm nhận được, là bốn câu thơ ấy như một dấu hiệu báo trước, đời thơ Nguyễn Tấn Sĩ không thiếu vắng hạnh phúc riêng tư. Không thiếu vắng hạnh phúc riêng tư, nhưng Nguyễn Tấn Sĩ vẫn chưa bao giờ nguôi cơn khát về hạnh phúc chung, về một tình yêu đương nào đó chăng?
Trong cả hai tập thơ, đặc biệt về mật độ, tần số xuất hiện ở tập đầu tay, hai chữ “cơn khát” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở nhiều bài khác nhau với nhiều ngữ cảnh, cung bậc không phải là một.

“anh đã sống như những bài thơ ấy / thắp cho em ngọn lửa trái tim mình / để em mãi nghìn năm còn bốc cháy / thơ không tan, ngọn lửa ấy không tàn / ôi suốt đời da diết gọi mênh mang / em mãi mãi trong lòng anh cơn khát / con lạc đà đi qua sa mạc / đi qua phận mình, giọt nước hoá đời em // cháy qua ngày cháy qua đêm / qua tháng năm vô tận / bao người đi trong cuộc đời hữu hạn / đăm đắm nhìn ngọn lửa thắp cho em / cháy qua ngày cháy qua đêm / qua năm tháng hỡi người xuyên sa mạc / anh với mặt trời và cơn khát / anh đi suốt đời hừng hực lửa tim em // cháy qua ngày cháy qua đêm…”
(Mặt trời và cơn khát (2))

Thoạt đầu, tôi nghĩ “cơn khát” ấy không thể là gì khác, mà chỉ có thể là khát vọng tình yêu đương, một tình yêu đương tuyệt vời nhất, bao giờ cũng ở phía chân trời, càng đi càng không bao giờ đến. Tôi cứ phân vân mãi, và cuối cùng nhận ra nghiệm số sờ sờ ngay trước mắt. Đó chỉ là tình yêu thơ ca, khát vọng về một lí tưởng thẩm mĩ của chính Nguyễn Tấn Sĩ. Với cách diễn đạt của mình, anh đã gọi cái đẹp tuyệt đối ấy là “em” – nàng thơ yêu dấu suốt đời anh khát vọng, mãi hoài tìm gặp. Nàng thơ của Nguyễn Tấn Sĩ huyền ảo, phi lí nhưng lại rất thật đối với anh: Nàng thơ sống trong lửa cháy, cháy không nguôi, cháy không bao giờ tắt, “cháy qua ngày cháy qua đêm”, cháy cho đến vô tận. Tất nhiên nàng thơ ấy chỉ có thể sống trong những ngọn lửa từ trái tim anh, thứ lửa mầu nhiệm mà chỉ con người mới có thể sáng tạo ra, ấp ủ trong lồng ngực mình. Tôi liên tưởng đến vũ điệu có hình tượng nàng tiên múa lửa, thuở trung học tôi từng xem trên phim ảnh hay từ một bức tranh trong phòng triển lãm nào đó.
Với hình tượng biểu đạt ấy, thơ anh trong khát vọng anh là vĩnh cửu, và cái đẹp vĩnh cửu ấy sẽ không chỉ là khát vọng của riêng anh, mà của mọi kiếp người vốn ngắn ngủi, vốn muôn thuở cô đơn giữa sa-mạc-cuộc-đời: “bao người đi trong cuộc đời hữu hạn / đăm đắm nhìn ngọn lửa thắp cho em / cháy qua ngày cháy qua đêm / qua năm tháng hỡi người xuyên sa mạc”.
Và hình ảnh “mặt trời” kia nữa! Tất cả mọi từ ngữ, ẩn dụ đều có ngữ cảnh cụ thể của nó. Nhưng loại trừ đi nhiều trường hợp, hình ảnh “mặt trời” với số lượng không ít trong thơ Nguyễn Tấn Sĩ vẫn là ẩn dụ về một tất yếu và thiết yếu của cuộc sống: “thiếu mặt trời mấy ai còn thấy bóng”! (3). Mặt trời, nhất là mặt trời giữa sa-mạc-cuộc-đời, là nguồn sáng không thể thiếu cho sự sống, đồng thời là nhân tố làm tăng nhanh cấp độ của “cơn khát” vốn đã không bao giờ dịu bớt trong Nguyễn Tấn Sĩ.
Phải chăng Nguyễn Tấn Sĩ là nhà thơ luôn luôn cháy bỏng cơn khát dưới nguồn sáng thi ca về cái đẹp thi ca?
Tuy nhiên, có khi mặt trời đồng nhất với em (nàng thơ, cái đẹp thi ca): “anh giữ lửa để mặt trời em cháy” (4), và cũng có khi, nàng thơ không chỉ là giọt nước giữa sa-mạc-cuộc-đời, mà là cơn mưa Mùa hạ (5): “mặt đất anh cồn cào cơn khát / cơn mưa em còn xa// em giễu cợt / thách đố loài ve phổ nhạc / thách đố tán cây lửa rớt / mỗi ngày đi qua chỉ thấy mặt trời cười”. Nụ cười thách đố tinh quái hay quái ác nữa, của chính mặt trời! Vì thế, đối với người thơ, cho dù anh cùng mặt đất khô khốc, anh đồng nhất với mặt đất khô khốc, tất cả, kể cả cơn mưa đã đồng nhất với em (nàng thơ, cái đẹp thơ ca), cũng chỉ là hư ảo, hoài vọng trong cổ tích: “em không có thật trên đời / mùa hạ ấy anh và mặt đất / tìm cơn mưa đã mất / sáng bóng đổ bên này, chiều bóng ngả bên kia…” (5). Những ẩn dụ ấy còn biến hoá: “gió khát nước qua sông làm sóng vỗ / cho đôi bờ thương nhớ chẳng hề nguôi // ẩn trong anh có nụ cười / phượng mặt trời tươi rói / em ở lại…” (6). Càng biến ảo hơn, các ẩn dụ có thể nói là cùng hệ thống ấy, ở một bài khác, Mùa đông (7): “những ngọn lửa ngỗ nghịch / trốn đâu rồi để rét cho em […] // có phải em là nơi trời đất gởi / anh và giá buốt mùa đông / xoáy thành tâm bão”. Ấy là khi người thơ song hành với mùa mưa rét, gió bão, lửa trong trái tim anh không đủ sức để giúp nàng thơ sưởi hồng, hong ấm.
Một điều khá lạ lùng nữa, khi vào chiều ba mươi Tết (hay là chiều sinh nhật?), năm anh vào tuổi 30, khoảnh khắc của hoài niệm quá khứ trước phút giao thừa, đón chào năm mới tương lai, Nguyễn Tấn Sĩ chân thành nhận ra suốt cả cuộc đời mình, từ bé đến bấy giờ, lúc đã 30 tuổi, anh cũng chỉ là hư ảo, không thật, chưa hề hiện hữu:

chiều ba mươi
rót mươi giọt nắng thầm
tôi uống cạn say một đời không thật
tôi uống cả những gì đã mất
chiều ba mươi
tôi uống chiều ba mươi.
(Chiều ba mươi tuổi (8))

Thì ra, thế giới thơ của Nguyễn Tấn Sĩ, chỉ là thế giới hư ảo, kể cả người thơ – cái tôi trữ tình trong thơ anh!
Có phải như vậy không? Không, không hoàn toàn như vậy!
Bài thơ có tên Mặt trời và cơn khát, được Nguyễn Tấn Sĩ chọn làm tên chung cho cả tập, chắc hẳn đó chính là bài thơ đề từ. Tại sao trong bài đó, ở câu mở đầu, Nguyễn Tấn Sĩ viết: “anh đã sống như những bài thơ ấy”? Nhưng cũng phải đặt vấn đề ở điểm mâu thuẫn này, khi anh lại viết: “tôi uống cạn say một đời không thật / tôi uống cả những gì đã mất”. Những gì đã mất cũng thuộc về “một đời không thật” ấy!
Phải chăng, một câu này (sđd., tr. 9) là tất cả chân thành, một câu kia (sđd., tr. 22) chỉ là lời giận dỗi với chính mình, muốn phủ nhận mình?
Tôi cũng không thể tin được, nếu các nhà thơ bảo rằng suốt cuộc đời sáng tác thi ca của họ, họ chưa bao giờ viết một bài thơ trữ tình nào đúng như sự thật trong đời sống đến mức có thể gọi là tái hiện y nguyên theo kiểu chụp ảnh, quay phim, chứ không phải tái tạo (tinh lọc, nhào nặn lại sự thật). Tôi biết rằng, trong cuộc sống của các nhà thơ nói chung, hay của bất kì ai, đều có những quãng thời gian, không gian (những hoàn cảnh cảm xúc, sáng tác) và con người (chủ thể, khách thể sáng tác) vốn đã rất nên thơ (không hẳn là thơ mộng), chứa đựng sẵn những tứ thơ sâu sắc; và nhà thơ may mắn phát hiện được, nhờ vốn liếng thi nghiệp, tài năng sẵn có, rồi chỉ việc viết ra trên trang giấy, như thể xuất thần ngay tức thì hay ở lúc nào đó về sau. Như vậy, phải chăng khi Nguyễn Tấn Sĩ bảo rằng, “tôi uống cạn say một đời không thật / tôi uống cả những gì đã mất”, ta cần phải hiểu anh: Nguyễn Tấn Sĩ muốn giấu mình, đánh lẫn những bài thơ rất thật kiểu tái hiện vào những bài hư cấu kiểu tái tạo, cho rằng tất cả đều là hư cấu kiểu tái tạo. Bởi lẽ, nhà thơ cũng có vợ, mà trên đời này, người vợ nào chẳng ghen tuông hoặc buồn đau vì những thoáng “ngoại tình”, cho dù chỉ “ngoại tình” trong tâm tưởng của chồng! Thậm chí, có nhiều người vợ ghen tuông hoặc buồn đau về kỉ niệm riêng của chồng trước ngày cưới! Đó là về thơ tình, còn thơ có tính xã hội, tính thế sự cũng thế, chúng phải chịu sự soi mói bên cạnh sự thưởng ngoạn của nhiều thành phần công chúng khác nhau về sự “nhạy cảm”. Cho nên, để tự bảo vệ bản thân trong yên ổn, nhà thơ đành xem tất cả thơ mình là hư cấu.
Hoặc là, phải chăng chúng ta cần lí giải vấn đề, căn cứ vào kinh nghiệm nội quan tâm lí bình thường và căn cứ vào tâm lí học sáng tạo văn chương nghệ thuật? Sống, đối với nhà thơ, ấy là lúc nhà thơ thật nhất với tâm thức mình trong khi sáng tác, cho dù thơ ca vốn được các nhà lí luận văn học trên thế giới nhất trí xếp vào loại hình hư cấu (fiction). Chính với thế giới hình tượng hư cấu (trong điều kiện có tự do sáng tác ở gia đình, ở xã hội), nhà thơ mới có thể sống thật với tất cả tâm thức mình. Khi sáng tác, nhà thơ khóc thật, cười thật, cùng bao cảm xúc, trạng thái tình cảm rất thật khác nữa, trước hình tượng, ngôn từ của chính mình, đó đâu phải là chuyện lạ. Mặt khác, thế giới hình tượng – cảm xúc – tư tưởng trong thơ không phải hoàn toàn là hiện thực y nguyên như nó diễn ra, tồn tại, mà chính là hiện thực được đãi lọc, kết tinh. Ai bảo Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc, Đặng Trần Côn và Chinh phụ ngâm khúc (qua bản dịch Phan Huy Ích – Đoàn Thị Điểm) là không thật? Ai bảo Nhớ rừng của Thế Lữ là không thật? Có điều, khái niệm chân thật ở văn chương phải được hiểu một cách biện chứng giữa chủ thể sáng tạo và đối tượng sáng tạo, trên cơ sở kinh nghiệm nội quan tâm lí của mỗi người và tâm lí học sáng tạo văn chương nghệ thuật.
Ngoài ra, nhà thơ trước hết là một con người có tính xã hội, vốn được thừa hưởng một nền văn hoá, giáo dục nhất định, do đó, nhà thơ phải tự giác “kiểm duyệt” chính tác phẩm của mình, ngay trong khi viết. Và, thử bàn cho hết lẽ, nếu nhà thơ nào đó cứ trắng trợn phơi bày phần bản năng thấp hèn, thú tính của chính mình (cũng là hằng số “con” trong mọi “con người”) ra trước thiên hạ, hẳn nhà thơ chỉ biết chân, mà không biết gì đến thiện và mĩ, trong khi chân – thiện – mĩ phải gắn bó hữu cơ thành một chỉnh thể nghệ thuật. Cái điểm trực tự động, có tính phản xạ của thiên lương có chức năng “kiểm duyệt” ấy (*c) (phần được giáo hoá bằng văn hoá, giáo dục) cũng thuộc về bản chất chân thật đến mức hồn nhiên nhi nhiên của nhà thơ.
Về đối tượng (khách thể) sáng tạo, ở tập thơ thứ hai của Nguyễn Tấn Sĩ, Lời hát khẽ, anh còn có một bài tứ tuyệt lục bát rất hay, vô hình trung thể hiện điều đó:

“Tìm vầng trăng / mọc chân cầu / Để vầng trăng / ở trên đầu / lẻ loi // Sống một nơi / nhớ một nơi / Suốt đời tìm / suốt đời rơi / để tìm”
(Tìm trăng (9))

Vầng trăng mọc chân cầu cố nhiên là vầng trăng hư ảo. Suốt đời nhà thơ thả rơi chính chiếc bóng hư ảo của mình và bóng dáng hư ảo của cõi sống hiện thực quanh mình xuống mặt sông, để tìm lấy, căn cứ vào đó để sáng tác. Lấy cái ảo để nói về cái thực. Nhờ vậy, thế giới hình tượng sẽ lung linh hơn, đa thanh, đa tầng, đa nghĩa hơn. Tất nhiên, tâm thức nhà thơ không phải là mặt nước vô tri. Tâm thức nhà thơ vốn sâu sắc, nên phản ánh không phải là phản ánh máy móc, mà là phản ánh có chọn lọc, theo kiểu kết tinh hoá.
Và còn phải thẩm định một cách toàn diện, không chỉ về nội dung tư tưởng – hiện thực của tác phẩm mà còn gồm cả hình thức nghệ thuật của tác phẩm. “Phong cách” không chỉ thể hiện ở ngôn từ, mà còn ở kết cấu, đề tài quan tâm, lí tưởng thẩm mĩ… Phong cách văn chương thể hiện ở mọi khía cạnh, mọi mặt của một loạt tác phẩm của một tác giả. “Bút pháp (hay phong cách văn chương), ấy là con người” (style, c’est l’homme)! Một định nghĩa của một tác giả Phương Tây, hầu như ai cũng biết, là một hướng tiếp cận để hiểu rõ hơn vấn đề này.
Ồ, nhưng tại sao tôi phải rườm rà lí giải những vấn đề sơ đẳng như thế, khi đọc thơ? Tôi hiểu, đúng là tôi rườm lời, quá nặng phần luận, phần cảm lại nhẹ quá. Nhưng chính thơ của Nguyễn Tấn Sĩ đã đặt tôi vào chỗ phải “khảo” luận trước khi cảm thụ thơ anh. Chẳng qua, Nguyễn Tấn Sĩ thành thật quá, thật thà quá, hoặc “tự bảo vệ” quá, đến mức dám nói thẳng là thật hay không thật ở thơ mình!

3

Nếu ở tập thơ đầu tay, Mặt trời và cơn khát, cấu trúc chung là gồm hai phần: tình yêu đương và lính giải phóng, thì ở tập thứ hai, Lời hát khẽ, cấu trúc thi phẩm gồm: tình cảm riêng tư (đôi lứa, gia đình, tuổi nhỏ), tâm cảm về cuộc đời (đất nước, lịch sử, thế sự – xã hội hiện tại, kiếp người) và tâm trạng người lính giải phóng giúp nước bạn (thời sang Campuchia).
Tuy vậy, mặc dù Nguyễn Tấn Sĩ không chia phần và đặt tên từng phần trong tập Lời hát khẽ, tôi vẫn thấy rõ: Phần Ia, Xuân (bài 1 – bài 15). Phần Ib, Xanh (bài 16 – bài 28). Phần II, Cõi sống (bài 29 – bài 44). Phần III, Cứu láng giềng (bài 45 – trường ca 55). Tôi không nói bố cục này rất rạch ròi, mà chỉ nói là khá rạch ròi, vì còn có sự linh hoạt đan xen các yếu tố vào nhau trong một tổng thể.
Nguyễn Tấn Sĩ có thể sẽ cáu lên, bảo tôi dám tự tiện, tự thị. Tôi chỉ biết cười, bảo lại anh, hai chữ “Xuân” xà “Xanh” là của chính anh với tần số xuất hiện đến mức chỉ đọc lướt qua là thấy chính anh, chứ không ai khác, đã cố tình lặp lại rất nhiều lần, như một thủ pháp nghệ thuật. Xuân xanh vốn là một từ ghép trong thơ cổ, nhưng anh tách ra, mỗi chữ trở nên không cũ (xuân) và mới hẳn (xanh), nhất là ở từng ngữ cảnh nghệ thuật cụ thể.

Xuân

Xuân, mùa xuân, đôi khi là Tết hoặc tháng giêng, với nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ, đã thật sự trở nên một biểu tượng trữ tình chiếm lĩnh cả tâm hồn anh. Sao anh yêu mùa xuân đến thế? Mùa xuân (mùa tươi đẹp, mùa xinh giòn, mùa nắng mới, mùa hương ngát, mùa hoa thắm, mùa lộc biếc), ai chẳng yêu. Nhưng Nguyễn Tấn Sĩ vẫn là người yêu mùa xuân một cách say đắm, bền lâu, chung thuỷ nhất. Hình tượng cổ điển ấy, được biểu đạt dưới ngọn bút tài hoa, sáng tạo mới ngôn từ theo một hệ thẩm mĩ hiện đại rất riêng, thêm vào đó là cấu trúc ngôn ngữ mới và nhiều thủ pháp nghệ thuật mới (tân thức) rất Nguyễn Tấn Sĩ.
Phải nói là nhìn chung, thơ Nguyễn Tấn Sĩ rất đều tay, không có bài nào quá “lép”, cũng không có bài nào trội hẳn lên. Mức độ chênh lệch về chất lượng giữa các bài, nếu so sánh trong cả hai tập, là không đáng kể. Vì thế, tôi rất phân vân, không định được bài nào là hay nhất của Nguyễn Tấn Sĩ. Nói vậy, tôi đã tính đến tạng chất riêng (thẩm thức, thị hiếu thưởng ngoạn thi ca riêng) của người cảm thụ. Theo tôi, thơ phải đẹp và giàu chất suy tưởng, cũng như thể nàng thơ, phải vừa xinh đẹp, đoan trang, vừa sâu sắc, trí tuệ và dĩ nhiên phải có tình, tình nghĩa thắm thiết. Bức tranh chiều xuân (10) là một bài như thế trong mảng thơ Xuân của Nguyễn Tấn Sĩ.

“Em là bức tranh xuân / Chiều ba mươi lạnh ngắt quán bên đường / Vội vã gió / Vội vã người / Vội vã / Rao bán nỗi buồn Cúc tím / Huệ và tôi // Tôi như trang lịch / Run rẩy đợi tay người / Bức tranh xuân / Nghiệt ngã mím môi cười / Chầm chậm chiều trôi / Lần lữa ba mươi / li rượu / chực tràn // Em và tôi / Tất cả muộn màng / Như là / Nắng rớt / Như là xuân / Rượt đuổi những mùa xuân // Em và tôi / Bức tranh chiều, trang lịch / Bủa lưới mùa xuân mắc cạn giữa đời chiều / Giãy giụa”.

Thơ Nguyễn Tấn Sĩ có nhiều bài đẹp hơn, mới hơn về ngôn từ, nhưng thơ anh đa số đều thể hiện tài hoa của anh, tuy rất ít chiều sâu suy tưởng. Ưu thế của anh là cảm chứ không phải nghĩ. Thơ tình anh chung quy cũng chỉ là những nỗi niềm thương nhớ thường tình. Ngoài ra, có một nỗi đau bị người yêu nào đó xin phép anh để đi lấy chồng, chứ chưa hẳn là phụ rẫy, hay là “phụ rẫy” một cách lịch sự và trí thức. Trong đó, hình như ẩn chứa niềm mặc cảm bản thân của anh là bị thất thế, thua thiệt, gồm cả sự thua thiệt của một người thầy giáo nhiệt tình, quyết tâm chấp nhận hi sinh, tình nguyện gửi lại viên phấn trắng để cầm lấy khẩu súng ra trận. Tuy vậy, anh cũng giấu đi, mượn một hình ảnh cổ điển trong dân ca để thể hiện niềm đau uất nghẹn, chấp nhận, bất cần, cam đành, câm nín một cách cao thượng của mình, ở cả nhạc điệu: “đời bao nhiêu dặm đường dài / ngựa ô khớp bóng trăng, phai bóng mình // về dinh thì cứ về dinh / sóng không động biển lặng thinh một đời” (11). Nỗi đau ấy còn thể hiện ở một tứ thơ rất hay, sự khăng khít không thể chia lìa của câu lục và câu bát trong thể thơ truyền thống này, nhưng trong thực tế đã bị chia lìa, hẳn cũng về người yêu phải vâng lời cha mẹ đi lấy chồng ấy: “ai đưa câu bát sang sông / để cho câu lục khóc ròng ngày xuân […] // ai đưa vó ngựa về dinh […] // một câu, thơ chỉ một câu / một câu ở lại nát nhàu tuổi xuân […] // … một câu ở lại tơi bời…” (12).
Đó là sự cao thượng và nỗi đau của một chiến sĩ bộ đội đang lao vào trận mạc, biết rằng người yêu mình không thể kiên tâm chờ đợi mỏi mòn, không thể không vâng lời cha mẹ… Có lẽ phải hiểu người thơ trong thơ Nguyễn Tấn Sĩ đôi điều như thế, để hiểu anh, hiểu thêm trái tim anh bị tổn thương, sinh ra đa đoan, đa mang, và từ đó, hiểu thêm một bài thơ đã trích nguyên vẹn.
Từ nỗi đa đoan, đa mang do trái tim bị tổn thương, Nguyễn Tấn Sĩ đã nhập thân vào hiện thực với bao nỗi niềm của cuộc đời… Ở Bức tranh chiều xuân, lại là xuân muộn, hai người (em và tôi) như hai thứ hàng ế ẩm chiều cuối năm, cận Tết, chiều ba mươi, chiều ngoài phố vắng ngắt người xe, để tập họp thân thích trong nhà, đón rước tổ tiên về vui Tết theo phong tục. Rao bán, nào ai thèm mua thứ hàng đại hạ giá. Chiều, được nhân hoá, thành kẻ nghiệt ngã mím môi cười. Tôi (hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ) và em (nàng thơ), thân phận chỉ là nắng rớt, là xuân rượt đuổi bao mùa xuân cũ, thậm chí muốn rượt đuổi những mùa xuân mới khỏi cuộc đời này, vì xuân thiên hạ đến, xuân mình thêm đau lòng. Cuối cùng, anh nhận ra tình trạng bi đát nhất: “bủa lưới mùa xuân mắc cạn giữa đời chiều / giãy giụa”. Có một điều khá lạ, là Nguyễn Tấn Sĩ không nói gì thêm về Cúc, Huệ, hai trong nhiều loại hoa thừa, hoa mới cao giá đó đã thành rác, bị vứt bừa bãi dọc lề đường vào chiều ba mươi áp Tết. Anh không nỡ nhẫn tâm chăng?
Ở bài này, một lần nữa, Nguyễn Tấn Sĩ đồng nhất chiều ba mươi với đời ba mươi tuổi, chiều cuối năm với chiều của đời người con gái. Chính đó là thời điểm xuân non sẽ thoắt hoá xuân già của những Cúc, những Huệ!
Bài Bức tranh chiều xuân sở dĩ tạo được ấn tượng ở người đọc là nhờ tình huống bi kịch được thể hiện trong đó.
Nguyễn Tấn Sĩ còn có nhiều bài rất xuân theo cá tính sáng tạo của anh. Tuy nhiên, ở các bài ấy, mặc dù câu chữ đẹp, ý thơ không tầm thường, không sáo mòn, nhưng vẫn dễ bị người đọc lướt qua bởi vẫn còn nhàn nhạt. Nếu tách ra từng bài, hiệu quả tạo được ở người đọc hẳn cao hơn. Khi đứng chung trong tập, hiệu quả ấy giảm thấy rõ. Nói cách khác, thơ Nguyễn Tấn Sĩ vẫn còn thiếu tính độc đáo trong từng tứ thơ, dẫu bài nào cũng khá hay.

Xanh

Đây là phần thơ nói về tuổi nhỏ với những kỉ niệm ở một làng quê, và gồm cả những bài thơ về tình yêu đương được miêu tả theo gam màu một thời xanh của danh hoạ Picasso. Em xanh (13), tên một bài thơ của anh, lại được miêu tả một cách khá độc đáo. Nhà thơ lấy vật thể vốn tự bao giờ trở thành biểu tượng trong trí óc, tình cảm ta là xanh (nói cách khác, nhắc đến nó, ta liên tưởng ngay đến màu xanh), để rồi nhận ra, khi mặt trời tắt, nó đen sẫm, trong khi đó, có vật thể nhờ bóng tối mới sáng xanh lên tuyệt đẹp. Anh viết:

“Biển không xanh / Trời xanh không xanh / Em bay như thế ngủ sao đành / Cháy ngọn lửa của loài đom đóm / Đêm nghiêng mình, rượu gạo lẫn vào em”

Ta chưa hiểu hết tứ thơ, thì đây, xin đọc tiếp: “Giật mình thành phố lênh đênh / Áo em xanh để anh quên lối về”. Phải chăng, đó là nàng thơ trên một chuyến bay đêm?
Có hai bài khác, Nguyễn Tấn Sĩ dùng chỉ một khổ thơ 4 câu làm đoạn kết cho cả hai. Bài Bỏ quên (14) (thuộc mảng Xanh này) và bài Khúc phố (bài chuyển mạch sang phần Cõi sống) cùng được kết:

“Ngày tháng mãi rộng lòng / Em thì chẳng bao giờ rộng lượng / Nên sông suối suốt đời vay mượn / Một chút trời xanh, để xanh”.

Hoá ra, sự thật giản đơn đến thế nhưng ta cứ bị nhầm. Nước sông, nước suối vốn không có màu. Màu xanh ấy là phản quang nhận từ trời xanh. Đó là màu xanh vay mượn. Nguyễn Tấn Sĩ đã đến tuổi không còn có thể gọi là thanh niên (năm xanh) được nữa, cho dù thơ anh vẫn dạt dào như sông, như suối?
Trong một bài thơ khác, ánh trăng tràn ngập, và có cả hôm trăng tắt lịm. Nguyễn Tấn Sĩ không viết ánh trăng xanh hay ánh trăng vàng, nhưng tôi không thể không cam đoan với mọi người rằng, ánh trăng trong bài Người thứ ba (15) phải là ánh trăng xanh. Hỏi, sao dám cả quyết thế? Xin đáp, bởi chỉ có ánh trăng xanh mới huyễn hoặc thế này:

“Bất chợt / Ánh trăng ngọn gió / Người ấy bắt đầu hư ảo lênh đênh / Người tìm nhớ để quên / Người tìm quên để nhớ / Người thứ ba lảng đảng vô hình // Bất chợt ánh trăng ngọn gió / Quần thảo trái tim / Nhuộm lá con đường / Có người bị thương có người lá nhuộm / Người thứ ba thoang thoảng mùi hương // Bất chợt / Có một lần bất chợt / Vầng trăng treo ấn kiếm giữa trời / Mỉm nụ cười nham hiểm / Và ba người / Ngã xuống ở ba nơi / Nếu kể vầng trăng là bốn / Người thứ ba / Bản nhạc không lời”.

Một người bị phân thân trong ánh trăng xanh, được biểu đạt thành hình người và bóng người. Người thứ ba, thật ra, chỉ là người được người ấy (tôi) gọi bằng ngôi thứ hai (em) duy nhất của anh ta. Tưởng chừng cuộc đời cứ mãi huyền ảo trong ánh trăng xanh với niềm thương nhớ (lúc cố quên lại là lúc nhớ nhất, và khi cố nhớ một lần nữa để rồi quên nhưng biết sẽ chẳng bao giờ quên được)! Tưởng chừng cứ đau mãi niềm đau của trái tim bị quần thảo, hành hạ – “có người bị thương, có người lá nhuộm”! Thế rồi, ánh trăng xanh gác kiếm và treo ấn. Tắt lịm. Chỉ còn độc nhất bóng tối khoả tràn. Gục ngã. Tất cả đều gục ngã. “Người thứ ba thoang thoảng mùi hương” yêu dấu kia chỉ còn lại là âm thanh của những nhạc cụ, im vắng tiếng người, nhưng thật ra tiếng người vẫn vang lên trong âm nhạc không lời ấy! Em vẫn tồn tại, cao sang hơn cả mùi hương.
Xanh của Picasso là giai đoạn cổ điển tuyệt vời nhất của ông, hơn cả giai đoạn lập thể sau này. Xanh của Nguyễn Tấn Sĩ không phải cổ điển, mà tân thức, tuy chưa vang xa, vang rộng nhưng đã khiến quê hương Quảng Nam của anh và bạn bè anh khắp nơi trong nước yêu mến.

Cõi sống

Những gì tôi yêu mến ở thơ Nguyễn Tấn Sĩ trên kia, anh không bằng lòng. Anh chỉ thích Hồn quê (16) và Nhớ mùa thu Thanh Tịnh (17). Thôi thì mặc bạn, mặc mình. Tôi cứ thích theo cách của tôi. Có điều này, tôi và Nguyễn Tấn Sĩ lại trùng nhau ý thích ở hai bài thơ trong phần Cõi sống.
Tôi thích Chiều đi qua cổ tháp (18) xuất phát từ chỗ khác với tác giả của nó là Nguyễn Tấn Sĩ. Anh như một Chế Lan Viên, không muốn làm người dưng với tháp Chăm, thấy hối hận vì tâm thức anh một thời cứ như là “li khách” với tháp cổ trên quê hương Đất Quảng, ở gần mà thực sự lìa xa, lạ lẫm với những tháp cổ ấy. Tôi thích vì bài thơ đẹp, có những ý tưởng vốn là sử kí được biểu đạt bằng thơ ca một cách nhuần nhị.

“Tôi như đất sét / chưa thành gạch / Đâu quách thành cho kẻ đốt đền / Vẫn cứ ngu khờ làm li khách / Con đường mộng mị ngõ không tên // Thương nhớ phù điêu chiều say khướt / Vết nứt thời gian vũ điệu Chàm / Lỡ một bàn chân nghìn năm bước / Lá đổ chiều xưa, chiều nay buồn // Mới hay gạch đỏ màu lưu lạc / Thắp chuyện giang hồ mây trắng bay / Để linh hồn đất như là lửa / Tôi và gạch ủ những cơn say // Tôi với tôi với chiều khôn dại / Ai có điêu tàn mới hiểu nhau / Một phút trầm si nên ngậm ngải / Tháp thì đứng lại tôi thì đi // Tháp thì ở đấy, ngày không ở / Quanh quẩn chiều buông nhuộm dấu Chàm / Lưng chừng tháp cổ về ai đó / Hát điệu ơi hời ru tháng năm?”.

Nếu được Nguyễn Tấn Sĩ bằng lòng, tôi sẽ cho in hai chữ bằng kiểu chữ khác với toàn bài và đồng thời viết hoa hai chữ ấy, lại bỏ một chữ và thêm một chữ, để câu thơ không lạc vần mà lại diễn đạt nhiều điều hơn (nhớ tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên [Phan Ngọc Hoan]; cảm chút ngẩn ngơ trong chiều bên tháp cổ quê nhà, vốn được sách địa lí – lịch sử nhà Nguyễn ghi lại địa danh dân gian là Kẻ Chàm, người Pháp phiên âm là Kacciam). Đoạn thơ ấy phải được sao – dán (copy – paste) lại một lần nữa: “Tôi với tôi với chiều khôn dại / Ai có Điêu tàn mới hiểu nhau / Một phút trầm si nên ngậm ngải / Tháp thì đứng lại tôi đi đâu”. Nhưng khó gì mà không tìm ra chữ “đâu”! Hẳn là Nguyễn Tấn Sĩ cố tình lạc vần để biểu đạt bản thân như thể anh đang lạc lõng, lạc loài! Và hai hư từ “thì” trong câu ấy cùng hư từ “thì” thứ ba ở đoạn dưới, nghe thật quá thật thà, mộc mạc đến nao lòng.
Tôi thích Chiều đi qua cổ tháp cũng bởi lẽ tôi đã viết nhiều bài thơ, chương truyện, trang sử về đề tài này (*d).
Trong mảng tôi mạn phép anh đặt tên là Cõi sống, bài Đêm Thuý Kiều (19) là một thành công đáng kể khác của anh. Đó không phải là đêm của thời đại Nguyễn Du (1765 – 1820) và tác phẩm “Tiếng kêu đứt ruột mới” (Đoạn trường tân thanh).
Tôi chú ý đến Đêm Thuý Kiều không chỉ bởi sự táo bạo là Nguyễn Tấn Sĩ dám kéo một thi hào vào đêm-đào-nương, đêm-con-hát với máy móc điện tử cuối thế kỉ thứ XX (karaoke), mà còn vì một “luận đề”, ngày xưa, cách đây khoảng 30 năm, với Nguyễn Tấn Sĩ, là một luận đề nghiêm trọng: linh hồn, theo ý nghĩa siêu hình tôn giáo. Đây là là thơ xưng tội trước Thiên Chúa, sám hối trước Đức Phật chăng? Tôi cũng đã từng băn khoăn, thao thức về nhà thơ – con người nói chung với hai mặt thiện – ác (tốt – xấu), về chức năng của thơ ca: liệu thơ ca có cứu rỗi (cứu độ, thiện hoá) được loài người nếu thơ ca thể hiện được chân lí nghệ thuật muôn đời là chân – thiện – mĩ? Tôi đã viết trong niềm trăn trở ấy:

thơ là nén hương sám hối?
thơ là toà giải tội?
cho người thơ tự cứu rỗi chính mình
cho con người trong sạch lại niềm tin
trước trái tim mỗi người và cõi sống.
TXA.

Văn chương, nghệ thuật có khả năng làm ô nhiễm, thậm chí là đầu độc xã hội. Nhà thơ cũng như các nhà nghệ thuật khác phải tự cứu rỗi chính mình, không thể nhờ vào đấng siêu hình, thần linh, chúa phật nào. Từ đó, họ tạo ra được một không khí văn chương nghệ thuật thật – tốt – đẹp. Chỉ trong không khí văn hoá, văn nghệ lành mạnh, mỗi người trong xã hội mới có điều kiện tốt để tự cứu rỗi chính họ.
Đến bao giờ mới thật sự không còn tiếng nguyện hứa trước nén hương nghi ngút khói trong bao ngôi chùa, hoặc với chuỗi hạt mân côi, trước toà giải tội trong bao thánh đường? Tội lỗi luôn luôn đồng hành với con người mãi mãi đến vô tận…
Nhà thơ cũng là con người, anh ta có thể phạm tội hát ả đào, lả lơi cùng đào nương lắm chứ. Thi sĩ đạo cao đức trọng Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) ngày xưa, nói về tội lỗi ấy mà như không hề xem đấy là tội lỗi, trong một bài thơ khóc bạn thống thiết, sâu lắng nhất, nghiêm trang nhất (Khóc Dương Khuê (*e)):

… Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối reo róc rách lưng đèo
Có khi tầng gác cheo leo
Lúc vui con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân!...

Xin mạn phép cụ Tam nguyên Yên Đổ, tôi chép lại lần nữa: “Có khi tầng gác cheo leo/ Lúc vui con hát lựa chiều cầm xoang!...”.
Nhưng, từ thời Đồng Khánh (9. 1885 – 1888) đến thời Bảo Đại (1926, 1932 – 1945), nhất là sau vài ba năm phong trào Cần vương bùng nổ mạnh mẽ rồi bị dập tắt dần, ấy là thời đoạn đảo điên của xã hội Việt Nam; trong đó sĩ phu, quan lại tại chức dưới ách thực dân, hay như cụ Nguyễn Khuyến, đầu hàng sớm, thua non giặc Pháp (1884) (*g), cáo quan về ở ẩn, hầu hết đều tiêu dao, hành lạc, cười mình và cười đời, còn nói làm gì!
Còn đây, bản tự phê và phê bình của Nguyễn Tấn Sĩ:

“Đêm Thuý Kiều / em bày vẽ cuộc vui / anh bày vẽ cuộc buồn li rượu đắng // Nếu cầm được linh hồn ra phơi nắng / em chẳng còn vui / anh chẳng còn buồn // Đêm không tên/ hồ dễ mấy ai quên / Nào Mã, nào Kim, này Lan, này Cúc / Này Thúc Sinh tàn đêm cạy cục / đời muốn buồn âm nhạc bị đòn oan // Hát đi em! Kim trỗi giọng thính phòng / Mã rối rít năm ba bài nhạc sến / Bác Nguyễn Du chạnh lòng tắt nến / Quờ đôi tay… / Anh bắt gặp tay mình // Quờ đôi tay đời anh bắt gặp chúng sinh / gặp bóng tối che nụ cười trơ tráo / Chưa qua “tam bách dư niên hậu” / thập loại bây giờ như hoá điên // Đêm Thuý Kiều ai bảo chẳng linh thiêng / đêm chếnh choáng Đạm Tiên đành bỏ cuộc / đêm tính sổ đỏ lừ tàn thuốc / Có một dòng sông đành cạn nước, sông Tiền”.

Sông Tiền Đường bây giờ không còn là nơi thanh tẩy cho Kiều đổi kiếp, trở lại làm người lương thiện nữa!
Liệu sự hiện hữu có thật của linh hồn, giả định theo thần học, có cứu rỗi được con người? Thực trạng sa đoạ, suy đồi về lĩnh vực này ở các quốc gia Thiên Chúa giáo, từ cổ đến kim, từ Tây sang Đông, nhất là thời hiện đại, không chứng minh điều đó.
Liệu Đêm Thuý Kiều có phải là một bài thơ tự vấn mình và nêu vấn nạn về đời với tất cả niềm thành khẩn? Tôi thấy Nguyễn Tấn Sĩ tài hoa, rất tài hoa ở phương thức sáng tác trữ tình tự phê và phê phán với nhiều từ ngữ sắc bén. Ở bài Khúc phố (14), anh bảo đó là “sự trải nghiệm”, là “niềm vui hắc ín”, và anh biết rõ như một nhà khoa học hình sự, “bánh xe qua điểm chỉ ngày hè”, nhưng ở đoạn kết trùng lặp y nguyên như ở bài Bỏ quên (14) là cả một ý thức… đáng phàn nàn (vay mượn một chút xanh… của trời xanh ở những quán cà phê “trải nghiệm”!). Nhưng dẫu sao, nhà thơ cũng chỉ là con người với hằng số chung: dục vọng song hành tồn tại với điểm trực vô thức – hữu thức của thiên lương. Nhà giáo cũng thế chăng? Không ảo tưởng về con người, tôi vẫn tin rằng, có thật nhiều tấm gương không tì vết! Tất nhiên giới nhà giáo trên khắp hành tinh này cũng chỉ là con người, có điều, hơn những con người tầm thường khác là biết sám hối, biết ăn năn tội, biết tự phê và phê bình, để sáng lên tấm gương mẫu mực (mô phạm) về sự chiến đấu và chiến thắng dục vọng thấp hèn? Đấy là điều các nhà đạo đức học gọi là tính người ở con người, thiên chức giáo dục ở nhà giáo; nhà lí luận văn học gọi là tính hiện thực chân thật nhưng là sự thật được nhìn nhận, thẩm định, phản ánh dưới ánh sáng của thiện năng và mĩ học ở nhà thơ và ở các nhà văn học nghệ thuật khác.
Đêm Thuý Kiều là một tiêu biểu của sự gắn bó hữu cơ, biện chứng của thật – tốt – đẹp? Hi vọng và hi vọng vậy thay…
Phần Cõi sống của Nguyễn Tấn Sĩ không chỉ có thế. Suy tư, cảm xúc của anh hướng về nhiều sự vật, con người khác trong đời sống chung quanh, trong chiều dài thời gian, và đã được thể hiện một cách rất thơ ca. Đó là vùng đất mũi Cà Mau, là phế tích Phật viện Đồng Dương và Tháp Lạn, là suối Tiên và huyện Giằng trên đất Quảng Nam, là người thầy (cũng là người anh, người bạn). Đó là cuộc thi hoa hậu, là nghĩa địa – cái chết…

Cứu láng giềng

Lẽ ra, phải viết cho đầy đủ là Cứu nước láng giềng, nhưng tôi muốn dùng chỉ ba chữ ấy để gần gũi hơn, đậm thêm tình hữu nghị với Campuchia.
Nguyễn Tấn Sĩ trải qua đến gần mười năm tuổi trẻ trong bộ đội, hầu hết thời gian tại ngũ là ở trên đất nước bạn, đất nước của Nụ cười Ăng-co (Angkor Thom, Angkor Vat). Với bẩm tính thi sĩ, trong tình yêu đương, anh đã trải nghiệm bằng cả trái tim; trong cõi đời chung quanh, anh trải nghiệm bằng tất cả tâm hồn, tất cả ý thức (ý thức hoà hợp, hoặc ý thức phê phán); trên nước láng giềng Campuchia, chiến đấu vì sự an lành của đồng bào dọc biên giới Tây Nam, vì mục tiêu đánh bại cái ác diệt chủng Pôn-pốt – I-iêng Xa-ry (Polpot – Ieng Sary), anh trải nghiệm bằng tất cả sự dũng cảm, ý chí, nghị lực và bằng tất cả lương tâm con người.
Về những trải nghiệm với ý thức nghĩa vụ trên đất nước láng giềng Campuchia, Nguyễn Tấn Sĩ đã viết ít ra là 10 bài thơ và một trường ca thơ (gồm 8 khúc (20)). Đó là những bài thơ anh viết ngay tại mặt trận, nhưng cũng gồm cả những bài được viết sau khi anh xuất ngũ, về lại Quảng Nam quê hương, cầm lại viên phấn trắng trước bảng đen, cầm lại cây bút đỏ trước bao trang vở trắng học trò. Ngoài ra, cũng có đôi bài anh cảm nghĩ về cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ. Ở những bài viết về Campuchia, lạ một điều là anh ít nhắc đến súng đạn, gươm dao, mặc dù không thể không nhắc đến chúng. Tôi là người chưa từng mang súng, cầm gươm bao giờ, nhưng hình như tôi cảm tình với khẩu súng, kể cả họng súng và viên đạn, nhưng rất ớn lạnh khi nhìn lưỡi lê hoặc dao găm. Mức sát thương của lưỡi lê đâu có bao nhiêu, so với súng đạn! Biết vậy, nhưng hình ảnh lưỡi lê máu me vẫn gây cảm giác rợn người cao hơn. Vốn rất yêu mến câu thơ “đầu súng trăng treo” trong bài Đồng chí của Chính Hữu, tôi lại thấy không thú vị gì, thậm chí hơi rờn rợn về hình ảnh “chiều mỉm cười trên đầu lưỡi lê” trong bài Thao thức trăng suông (21) của Nguyễn Tấn Sĩ, mặc dù anh bảo tôi, đó là một bài nhiều người khen hay, cảm động. Vâng, đó là một bài rất cảm động, nhưng có mỗi một câu thơ ấy là tôi thấy … không ổn!
Ít nhắc đến súng đạn, gươm dao, mà thường suy tư, liên cảm về các di tích lịch sử – văn hoá Kh’mer, chừng như anh chàng nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ này luôn xác định cho chính mình và trước mọi người, anh chiến đấu chống bọn diệt chủng Kh’mer Đỏ là vì sứ mệnh bảo vệ văn hoá, văn hoá không chỉ là các di tích, mà văn hoá ở từng người dân Campuchia cụ thể. Và hơn thế nữa, mãi đến năm 2003, khi xuất bản tập Lời hát khẽ, anh trang trọng đề từ ngay ở trang đầu tập:

“… Tôi đã ngủ đâu
trời cơ man giông bão
đời cơ man tiếng thét gọi không lời
Nuôi kỉ niệm màu xanh rừng trên áo
tôi sống ở trong đời
người lính sống trong tôi…”

Tôi càng quý mến Nguyễn Tấn Sĩ khi đọc Trò chuyện cùng tượng đá. Đây là một bài thơ được cấu trúc với 3 phân đoạn, mỗi phân đoạn có tiêu đề riêng, do đó người đọc có thể tập trung cảm nhận của mình vào từng phân đoạn một, không bị chiều dài của bài thơ làm lan man. Có một điều, tôi thích bản cũ trong tập Mặt trời và cơn khát hơn. Nhưng bản cũ chỉ gồm 2 đoạn. Tôi đành mạn phép Nguyễn Tấn Sĩ để làm một sự lắp ghép (22).

“ĐÁ // cười chi đá ơi / bóng thời gian mưa nắng / đi qua cay đắng / đi trong câm lặng / đá cười / Bay-on, tôi chưa hiểu hết Người / khi chưa hiểu đá / những ngọn lửa chiến tranh nghiệt ngã / thịt xương tơi tả / đá cười? / Bay-on, thà Người nói bằng lời / như giọt thốt nốt ban mai ngọt nửa chiều men đắng / nhưng đá hỡi cứ hoài nín lặng / điệu múa quanh Người bí ẩn cả đôi tay // NGƯỜI // Bay-on, tôi có người mẹ khô gầy / bồng con đợi ngàn năm / nụ cười hoa trái mọc / nước mắt rơi suối nguồn tuôn / vô tận nỗi buồn / thành đá // Bay-on, Người như quen như lạ / năm tháng binh đao gởi lại nụ cười / Bay-on, tôi không đến đây để làm người chiêm ngưỡng / bao triều đại đi qua / nụ cười còn mãi… // NỤ CƯỜI // tôi chỉ là người lính thôi / đang rượt đuổi tận cùng cái ác / chặn bàn tay hoả thiêu tiếng hát / bàn tay chôn nụ cười / và Bay-on, tôi đã gặp người / trước khi gặp đá / có em bé Khơ-me đói lả / có người mẹ tìm con vừa gục xuống đêm qua / hạt gạo tôi mang từ khó nhọc mẹ già / kịp nhỏ xuống bờ môi khô giọt cháo / và tôi gặp đôi môi Bay-on trong nụ cười tái tạo / bàn tay xưa trên mạch đá lần tìm…”.

Chính hai dòng thơ, “Bay-on, tôi chưa hiểu hết Người / khi chưa hiểu đá”, là cái mốc Nguyễn Tấn Sĩ dựng lên trong mạch cảm nhận của người đọc, để từ cái mốc ấy, ta cùng anh liên cảm đến người mẹ già ở quê hương và hình tượng Mẹ Bồng Con (23), tên một ngọn đèo ở dải đất Miền Trung. Đó là hình tượng của người phụ nữ Việt Nam nhẫn nại, kiên tâm, chung thuỷ, người phụ nữ của một đất nước luôn phải đứng trước thách thức sống còn, phải tiến hành những cuộc chiến tranh chống xâm lược từ mọi phía, suốt bốn nghìn năm lịch sử. Mặc dù anh không nhắc đến tên ngọn đèo này, nhưng hòn vọng phu Mẹ Bồng Con không thể là một hình tượng khác trong tâm thức anh, khi Nguyễn Tấn Sĩ viết: “Bay-on, tôi có người mẹ khô gầy / bồng con đợi ngàn năm / nụ cười hoa trái mọc / nước mắt rơi suối nguồn tuôn / vô tận nỗi buồn / thành đá // Bay-on, Người như quen như lạ / năm tháng binh đao gởi lại nụ cười”. Nguyễn Tấn Sĩ hiểu chất đá, thực ra là bản chất của hình tượng Nụ cười Bay-on của Campuchia, bằng cái hiểu của một người Việt Nam, có quê hương là Tam Kỳ, thị xã tỉnh lị của Quảng Nam, vốn ở ngay chính giữa đường sắt thống nhất xuyên Việt. Khi đã hiểu chất đá đó, hiểu theo tâm thức riêng của anh, anh cho rằng anh đã hiểu Nụ cười Bay-on. Tôi muốn nhấn mạnh sáu chữ được chia làm hai dòng này: “vô tận nỗi buồn / thành đá”, như đã mạn phép nhấn mạnh hai dòng trên kia, tôi xem là cái mốc trong mạch cảm xúc, suy tưởng của Nguyễn Tấn Sĩ.
Không ai trách Nguyễn Tấn Sĩ cố tình chủ quan khi hiểu Nụ cười Bay-on như vậy. Có lẽ anh không quan tâm lắm đến Phật học? Không quan tâm đến Phật học với nụ cười Đức Phật Thích Ca, làm sao anh hiểu nổi Nụ cười Bay-on? Nhưng hỏi thế là tôi đùa với anh đó thôi. Hình tượng Jésus Christ buồn bã cúi xuống, giang hai cánh tay với hai bàn tay ngửa ra như ban phát, như đón chờ, như phân trần, hoặc ngước nhìn lên Trời cao (Jéhova) với ánh mắt tôn thờ, ngóng trông, cam chịu, có lẽ Nguyễn Tấn Sĩ hiểu sâu sắc. Cũng có thể Nguyễn Tấn Sĩ có bề sâu hơn khi ngẫm nghĩ về Nụ cười La Joconde của Léonard de Vinci. Nhưng rốt cuộc, Nguyễn Tấn Sĩ vẫn giũ bỏ, lãng quên hết tất cả mọi thứ triết lí, triết học, tôn giáo, chỉ lấy hình tượng Mẹ Bồng Con chờ chồng đi đánh giặc ngoại xâm trở về đoàn tụ trong độc lập, tự do của Việt Nam để hiểu Nụ cười Bay-on!
Nhà thơ cho phép mình chủ quan một cách đầy sáng tạo như vậy. Nhưng cũng vì mang bản tính thi sĩ, anh quên đi một vài câu cước chú cần thiết.
Về hai tập thơ của Nguyễn Tấn Sĩ, tôi đã cố gắng cảm nhận trong chừng mức có thể. Cũng như thơ của nhiều nhà thơ danh tiếng khác, số lượng bài hoàn chỉnh tuyệt đối của Nguyễn Tấn Sĩ hầu như rất hiếm, nhưng vẫn còn nhiều câu thơ hay, tứ thơ đẹp trong hai tập thơ ấy, bên cạnh nhiều câu, nhiều bài chưa thể gọi là hay, mặc dù tất nhiên là không thể bảo là dở hoặc trung bình. Tuy vậy, làm sao tôi có thể trình bày hết trên trang giấy tất cả những gì tôi đã cảm nhận về cái hay, cái đẹp trong thơ anh. Có một điều tôi thấy cần khẳng định lại: Trong các bạn thơ quen biết, thân tình, Nguyễn Tấn Sĩ là một trong vài nhà thơ có phong cách rất riêng về ngôn từ thơ, mặc dù ngôn từ thơ là một mặt cực kì quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả đối với thi ca.
Tôi thấy bài viết cũng không cần phải tổng kết…
Tôi đoán rằng, Nguyễn Tấn Sĩ rất sợ “tổng kết” về thơ ca của mình, vì như thế rất “tổn thọ” cho một đời thơ đầy sáng tạo, còn mãi khát vọng và năng lượng sáng tạo như anh. Nguyễn Tấn Sĩ vẫn còn nhiều tập thơ chưa xuất bản, và nhất là còn nhiều tập thơ khác trong trái tim anh.

TP. HCM., khởi viết từ 14 giờ 12 phút, ngày 03. 10. HB4 (20. 8 G. thân HB4);
viết xong vào lúc 11 giờ 12 phút ngày 05. 10. HB4 (22. 8. G. thân, HB4).
TRẦN XUÂN AN


(*a) Xin xem thêm: Trần Xuân An, Giữa vòng tay Tam Kỳ và bè bạn, bút kí, Kỉ yếu 40 năm (1955 – 1995) thành lập Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, Quảng Nam – Đà Nẵng, 1995, tr. 58 – 70. Trong bút kí này, nhân vật S. là Nguyễn Tấn Sĩ.
(1) Nguyễn Tấn Sĩ (Sỹ), Mặt trời và cơn khát (MT. & CK.), tập thơ, Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng xuất bản, 1991; & Lời hát khẽ (LHK.), tập thơ, Hội Văn nghệ Quảng Nam xuất bản, 2003.
(*b) Chữ đầu dòng thơ viết hoa hay không, tôi giữ nguyên theo văn bản của tác giả. Xét về ngữ pháp, viết hoa chữ đầu dòng thơ hay không, đều sai. Đây chỉ là cách trình bày bài thơ trên giấy cho đẹp, tuỳ theo mỗi tác giả.
(2) MT. & CK., sđd., tr. 9.
(3) Đọc Trò chơi của Bônđarep, MT. & CK., sđd., tr. 23.
(4) Không đề, MT. & CK., sđd., tr. 5.
(5) MT. & CK., sđd., tr. 12 – 13.
(6) MT. & CK., sđd., tr. 14.
(7) MT. & CK., sđd., tr. 17 – 18.
(8) MT. & CK., sđd., tr. 21 – 22.
(*c) Điểm trực tự động, có tính phản xạ của thiên lương có chức năng “kiểm duyệt” ấy, gọi tắt là điểm trực thiên lương (phần được giáo hoá bằng văn hoá, giáo dục, trở thành bản năng cao đẹp, có sức đề kháng tự giác kiểu phản xạ, phản ứng trước cái xấu, cái ác trong mỗi con người, trong xã hội) được Phật học gọi là a lại gia thức, được Sigmund Freud gọi là le sur-moi (siêu ngã). Tôi không muốn dùng nhóm thuật ngữ cùng hệ thống khái niệm của S. Freud, bởi có nhiều kẻ đã vận dụng chúng với mưu toan diễn dịch, xuyên tạc (giải mã các hình ảnh được mã hoá, do bị siêu ngã kiểm duyệt!), với mục đích quy về libido (ẩn ức tình dục).
(9) LHK., sđd., tr. 40.
(10) LHK., sđd., tr. 25 – 26.
(11) MT. & CK., sđd., tr. 7.
(12) LHK., sđd., tr. 19 – 20. Theo quan niệm dân gian về hồn vía, người nam có 03 hồn 07 vía, tương ứng với câu lục; người nữ có 03 hồn 09 vía, tương ứng với câu bát.
Trên đây, tôi chỉ phân tích theo hình tượng thơ trong 02 tập thơ của anh. Trong thực tế ngoài đời, tôi được biết Nguyễn Tấn Sĩ cũng có một người yêu xin phép anh để đi lấy chồng như vậy. Đó là một cô giáo, giảng viên trường cao đẳng, rất xinh đẹp, trí thức, chủ động biến tình yêu đương thành tình bạn. Tôi cũng được biết rằng, suốt hơn 20 năm nay, Nguyễn Tấn Sĩ đã chung sống hạnh phúc với một người vợ xinh đẹp, đảm đang, đức hạnh.
(13) LHK., sđd., tr. 37.
(14) LHK., sđd., tr. 33 & tr. 56. Nguyễn Tấn Sĩ điện thoại cho tôi biết rằng, đoạn kết này chỉ thuộc bài Khúc phố. Anh thấy cũng không cần phải đính chính lỗi in ấn này.
(15) LHK., sđd., tr. 43 – 44.
(16) LHK., sđd., tr. 45 – 46.
(17) LHK., sđd., bài Nhớ mùa thu Thanh Tịnh, tr. 51. Lẽ ra, bài này Nguyễn Tấn Sĩ phải chú thích cho đầy đủ: Bài Tôi đi học, Anatole France (1844 – 1924), nhà văn Pháp, là tác giả. Thanh Tịnh chỉ là dịch giả tài hoa. Thiết tưởng, ta cũng cần nhớ nhà văn Pháp ấy, người đã dùng ngọn bút của mình để vạch trần chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam.
(18) LHK., sđd., tr. 75 – 76.
(*d) Trần Xuân An, Nước mắt có vị ngọt (tập truyện liên hoàn, 1999); Suy nghĩ về lịch sử cổ đại nước ta (khảo luận sử học, 2004).
(19) LHK., sđd., tr. 71 – 72.
(*e) Dương Khuê (1839 – 1902).
(*g) Thơ Nguyễn Khuyến: “… Cờ đang dở cuộc, không còn nước / Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng / Mở miệng nói ra, gàn bát sách / Mềm môi chén mãi, tít cung thang / Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”.
(20) Như đã nói, đây là phần thơ đã in ở tập MT. & CK., lại được tác giả Nguyễn Tấn Sĩ chọn lọc, bổ sung, sửa chữa, in lại ở tập LHK.
(21) LHK., sđd., tr. 3.
(22) MT. & CK., sđd., tr. 35 – 36; LHK., sđd., tr. 92 – 94.
(23) Ở đây, chắc chắn Nguyễn Tấn Sĩ không nói đến nàng Tô Thị, vốn là một hình tượng cổ tích mang ý nghĩa giáo dục luân lí. Anh đã có một bài khác viết về Tô Thị. Xem: LHK., sđd., bài Nàng mới ra đi, tr. 69 – 70.


Đã gửi: Ngày 06. 10. 2004

1. Nguyễn Tấn Sĩ
2. Tạp chí Đất Quảng.



XIN XEM TIẾP PHẦN II